TỔ QUỐC lâm nguy nguyện dấn thân
Phục hồi DANH DỰ trả toàn dân
Mọi người TRÁCH NHIỆM chumg vai gánh
Dân Chủ, Tự Do quyết đạt thành!
Trong bài này, phê bình được hiểu theo nghĩa đứng đắn và xây dựng của nó. Những ý nghĩa thường được gán một cách sai lầm cho hai chữ ấy sẽ không được đề cập. Chỉ trích với ác ý, xuyên tạc một sự việc, dèm pha người vắng mặt, đả kích không căn cứ... không phải là phê bình. Những việc làm này chỉ nhằm bôi bẩn một cá nhân, đánh phá một tổ chức. Phê bình, trái lại, hàm chứa thiện cảm lẫn thiện tâm, thiện ý và thiện chí vì nó nhằm giúp một cá nhân hay một tổ chức có cơ hội thực hiện tiến bộ trong tương lai. Trong giới văn học nghệ thuật, nhờ những nhận xét tinh tế của các phê bình gia mà thế nhân được thưởng thức những thi phẩm trác tuyệt, những tác phẩm tuyệt vời, những bức danh họa lưu truyền hậu thế. Trong lãnh vực chánh trị, đảng đối lập và giới truyền thông có thể được xem như những nhà phê bình đối với chánh quyền đương hữu. Dưới thời quân chủ, các quan ngự sử cũng có thể được xem như những nhà phê bình đối với nhà vua.
Một điểm cần minh xác: trong bài này, người viết không có tham vọng bàn về phê bình trong lãnh vực văn học và nghệ thuật.
Phê bình không phải chỉ nêu những nhược điểm mà còn nêu những ưu điểm của đối tượng phê
bình. Điểm chính yếu là người phê bình cần phân tách các ưu điểm và khuyết điểm. Tại sao dở, tại sao
hay, tại sao đúng, tại sao sai, tại sao thiếu, tại sao dư? Phê bình còn hàm ý thuyết phục đối tượng phê bình để đương sự khai thác những ưu điểm và sẵn sàng sửa chữa những điểm sai lầm và bổ túc những điều thiếu sót mà người phê bình đã ghi nhận.
Một câu hỏi được đặt ra: Phê bình là một nghệ thuật hay một kỹ thuật? Nghệ thuật là điều gì người ta có thể học hỏi được, nhưng kết quả của việc áp dụng những điều đã học hỏi không nhứt thiết giống nhau. Chẳng hạn, một trường mỹ thuật đào tạo nhiều sinh viên, nhưng các sinh viên không có tài hội họa giống nhau. Kỹ thuật, trái lại, là điều gì người ta học hỏi được và kết quả của việc áp dụng các điều học hỏi nhứt thiết phải y như nhau. Đa phần hay hầu hết các tác vụ sản xuất trong lãnh vực công, kỹ nghệ đều thuộc về kỹ thuật.
Hiểu các thuật ngữ phê bình, nghệ thuật, kỹ thuật như vừa phân tách, chúng ta thấy phê bình có phần nặng về nghệ thuật hơn là kỹ thuật. Thật vậy, chúng ta có thể học hỏi những phương pháp và các nguyên tắc áp dụng trong việc phê bình. Nhưng thấu triệt các phương pháp và các nguyên tắc là một viêc; thành công trong việc phê bình lại là một việc khác. Có thể nhờ nắm vững các nguyên tắc và phương pháp phê bình, chúng ta thành công trong việc mổ xẻ các ưu và khuyết điểm, nêu những điều thiếu sót của đối tượng phê bình. Nếu chỉ có thế thì việc phê bình không thể được xem như một đóng góp cho tiến bộ. Phê bình chỉ chu toàn nhiệm vụ của nó khi nào đối tượng phê bình sẵn sàng chấp nhận sửa sai và bổ khuyết những điều thiếu sót do người phê bình nêu ra. Nhưng lắm khi vì thiếu tế nhị và khéo léo, người phê bình đưa đối tượng vào thế đối kháng mặc dầu trong thâm tâm đương sự đồng ý hoàn toàn về những nhận xét của người phê bình. Dĩ nhiên điều này chứng tỏ đối tượng phê bình không chịu phục thiện và tỏ ra ngoan cố. Nhưng chúng ta cũng thấy sự ngoan cố nói đây bắt nguồn từ sự thiếu tế nhị và khéo léo của người phê bình.
Đến dây, một câu hỏi khác lại được nêu lên: Người phê bình và đối tượng phê bình nên có thái độ như thế nào để cho sự phê bình làm tròn nhiệm vụ của nó: đóng góp cho tiến bộ?
THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI PHÊ BÌNH.
Thái độ của người phê bình, theo thiển ý, cần theo hai điểm mà chúng tôi tạm gọi là nguyên tắc:
1- Thành khẩn và tế nhị trong việc phê bình
2- Thấu triệt tình tiết bao quanh vấn đề được mang ra phê bình.
1. Thành khẩn và tế nhị trong khi phê bình.
Sự thành khẩn nhằm giúp đối tượng phê bình nhận thức rõ là người phê bình thực sự muốn đóng góp vào công việc mà đối tượng phê bình đang thực hiện để công việc này được hoàn hảo. Người phê bình tế nhị không dùng những chữ “sai”, “bậy”, ‘trật”, “không đúng”, “thiếu sót”..... Nói khác đi, người phê bình không nên dùng những thuật ngữ làm tổn thương tự ái của đối tượng phê bình. Trước khi phân tách những sai lầm hoặc thiếu sót của đối tượng phê bình, người phê bình nên ghi nhận những ưu điểm của đương sự. Trong quyển“Thuật Xử Thế Của Người Xưa” (Cơ Sở Xuất Bản Đại Nam, 1967 – trang 21), học giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần viết: “Đừng công kích, đừng biếm nhẽ, đừng mạt sát ai... nghĩa là đừng chạm vào lòng tự ái của ai cả, nếu mình muốn người ta nghe theo mình, nghe theo cái lẽ phải của mình. Hơn nữa, cái thiện cảm đầu tiên mà mình gây được nơi lòng người rồi, đó là cái chìa khóa của thành công của mình sau này vậy.”
Thành khẩn và tế nhị trong việc phê bình giúp đối tượng phê bình phấn khởi và thoải mái để chấp nhận những nhận xét của người phê bình và sẵn sàng sửa sai hoặc bổ khuyết những điều thiếu sót.
Câu chuyện sau đây, trích từ Chiến Quốc Sách, có thể diễn tả phần nào nguyên tắc vừa được đề cập (xin
xem Chiến Quốc Sách của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, do nhà xuất bản Xuân Thu, Houston, Texas phát hành, trang 99-100 và 501-505):
Tần đem quân tấn công nước Triệu. Triệu cầu viện nước Tề. Tề đặt điều kiện là Triệu phải đưa con nhỏ của Triệu Thái hậu là Trường An Quân sang Tề làm con tin, nhiên hậu mới xuất quân cứu viện. Triệu Thái hậu nhứt quyết từ chối. Các quan đại thần, kẻ đi người đến, tâu với Thái hậu là từ chối điều kiện của Tề, nước Triệu ắt sẽ bị Tần thôn tính. Kết cuộc cả triều đình nước Triệu làm cho Thái hậu nổi giận và phán rằng: “Ai còn nói đến chuyện đưa Trường An Quân sang Tề làm con tin, mụ tất nhổ vào mặt.”
Chính lúc Triệu Thái hậu còn trong cơn giận dữ thì một lão thần nước Triệu là quan Tả Sứ Xúc Chiệp xin vào yết kiến. Quan Tả Sứ không đề cập gì đến chuyện đưa Trường An Quân sang Tề làm con tin. Ông tâu Thái hậu những chuyện đâu đâu: vấn an sức khỏe của Thái hậu, hỏi thăm Thái hậu có ăn uống bình thường không, rồi ông nói đến chuyện đau chân của ông. Kế đó, ông lại xin cho một đứa con của ông được sung vào đoàn thị vệ của hoàng cung. Tất cả những câu chuyện bâng quơ ấy làm cho Triệu Thái hậu nguôi giận, quên hẳn những chuyện bực mình do các quan đại thần khác gây nên. Khi thấy Thái hậu đã trở nên thoải mái, Xúc Chiệp bèn bàn đến tình thương con của các bực cha mẹ. Kết cuộc, ông đã làm cho Thái hậu chấp nhận rằng thương con là phải lo tương lai cho con. Và việc đưa Trường An Quân sang Tề làm con tin là tạo cho Trường An Quân cơ hội lập công với Triệu quốc. Dĩ nhiên sau đó Triệu Thái hậu chấp nhận đưa Trường An Quân sang Tề. Triệu quốc được Tề quốc tiếp viện, thoát khỏi bị Tần thôn tính.
2. Thấu triệt tình tiết bao quanh vấn đề được đem ra phê bình
Không thấu triệt hoặc không tìm hiểu toàn bộ vấn đề mà mình đem ra phê bình, người phê bình dễ gây cho đối tượng phê bình một sự khó chịu vô ích, làm mất niềm hòa khí giữa người phê bình và đối tượng phê bình và biến thiện ý thành ác ý, biến phê bình thành xuyên tạc. Ngoài ra, trước khi nắm vững vấn đề, người phê bình có thể sẽ rơi vào tình trạng phê bình sai. Trong văn học sử Trung quốc cổ thời, có hai giai thoại khá lý thú về trường hợp nêu trên, xin được tóm lược dưới đây.
a) Hai câu thơ của Vương An Thạch
Vào một buổi đầu xuân, Tô Đông Pha (TĐP), một danh sĩ đời Tống, cùng vài người bạn đến vấn an và chúc thọ Tể tướng Vương An Thạch (VAT). Trong khi chờ Tể tướng tiếp kiến, TĐP chợt nhìn thấy hai câu thơ do chính VAT viết và treo nơi đại sảnh:
“Minh nguyệt sơn đầu khiếu.
“Hoàng khuyển ngọa hoa tâm
Tạm dịch:
Chim Minh nguyệt hót trên đỉnh núi
Sâu Hoàng khuyển nằm trong lòng hoa
Sau khi chúc thọ xong, trên đường về, TĐP nêu nhận xét về hai câu thơ của VAT: “Hai câu thơ của Tể tướng không được chỉnh”. Các bằng hữu hỏi tại sao không chỉnh. Họ Tô giải thích: “Tể tướng viết “Minh nguyệt sơn đầu khiếu” có nghĩa là “trăng sáng hót trên đỉnh núi” Quý hữu nghĩ xem trăng làm sao biết hót! Tại hạ chưa từng thấy trăng hót bao giờ cả, dù trăng có sáng đến đâu chăng nữa. Trăng chỉ có thể chiếu hoặc soi sáng đỉnh núi, nhứt định không thể hót được. Còn một điểm nữa, ai đời quan lại cho con chó vàng (hoàng khuyển) nằm trong lòng một đóa hoa (hoa tâm). Hoa nào to đến độ có thể chứa cả một con chó, dù là một con chó chưa mở mắt.” Các bằng hữu hỏi họ Tô: “Như vậy thì theo hiền hữu phải sửa thế nào cho chỉnh?” TĐP đáp: “Rất dễ! Chỉ cần sửa chữ “khiếu” thành chữ “chiếu”và chữ “tâm” thành “âm“ thì hai câu thơ sẽ tuyệt vời”. Cao hứng, TĐP khẽ ngâm hai câu thơ mà ông vừa nhuận sắc:
“Minh nguyệt sơn đấu chiếu,
“Hoàng Khuyển Ngọa hoa âm”.
Tạm dịch:
Trăng sáng chiếu đỉnh núi
Chó vàng nằm dưới bóng hoa
Các bạn của TĐP vổ tay tán thưởng và cho rằng họ Tô đáng bậc thần thơ và có lẽ thi tài của Tể tướng VAT đã biến đổi ngược chiều với số tuổi của ông.
Trong khi cao hứng bình thơ như trên, TĐP đâu có ngờ trong đám bằng hữu lại có một tên “chỉ điểm”. Do đó, câu chuyện thấu tai VAT. Ông không giận mà chỉ mỉm cười một cách bao dung, độ lượng.
Sau tết Nguyên đán năm đó, TĐP nhận được chiếu chỉ đi trấn nhậm một Huyện nọ. Một hôm rỗi rảnh việc quan, quan huyện họ Tô cùng người lính hầu dạo chơi vùng núi tiếp cận thị trấn. Đó là một buổi sáng đẹp trời, cây cỏ, hoa lá, muông thú như bừng sống dậy sau một mùa đông ngập tuyết. Đang nhìn ngắm cảnh trời mây, TĐP bỗng thấy một đôi chim lượn trên vòm trời xanh. Đôi chim thật đẹp, họ Tô chưa từng thấy. Sau một hồi bay lượn, đôi chim đáp trên đỉnh núi, cất tiếng hót thật lảnh lót, tựa một nhạc khúc mừng xuân. TĐP hỏi người lính hầu: “Loại chim này ta chưa từng thấy. Ngay tại kinh đô cũng không có. Ngươi có biết tên nó là gì không? Người lính hầu vội đáp: “Kính bẩm thượng quan, loại chim này thuộc loại hiếm và quý. Chúng chỉ sống tại vùng núi bao la này mà thôi. Tên loài chim này là Minh Nguyệt”.
Giựt mình vì chợt nhớ lại câu thơ của Tể tướng VAT: “Minh nguyệt sơn đầu khiếu” mà mình đã sửa lại thành “Minh nguyệt sơn đầu chiếu” vì chỉ hiểu “minh nguyệt” là trăng sáng, TĐP cảm thấy kiến thức mà mình thu thập được quá từ chương, chỉ biết “minh” là sáng và “nguyệt” là trăng chớ chưa đủ từng trải và lịch lảm để biết rằng trên cõi đời này có một loài chim quý tên là “Minh nguyệt”!
Thế rồi thời gian lặng lẽ trôi. Xuân tàn, hạ đến, lá úa tàn thu, rồi tuyết lại ngập tràn phố thị. Vào một ngày tàn đông, TĐP lại nhận được chiếu chỉ thăng tri phủ và đến trấn nhậm một Phủ nọ, thuộc miền nắng ấm. Vùng đất này nổi tiếng có nhiều kỳ hoa dị thảo. Một buổi sáng sương còn đọng trên cành cây, ngọn cỏ, TĐP một mình dạo chơi vùng ngoại ô thị trấn. Mùi hương thơm lãng đãng trong không gian buổi sáng dẫn ông đến một vườn hoa bao la bát ngát. Đang tưới hoa, thấy quan phủ tới viếng, chủ vườn vội vã ra nghinh đón, mời ông vào nhà dùng trà, đoạn mời ông ra thưởng ngoạn những loài hoa quý. Một điều khiến quan phủ họ Tô rất đổi ngạc nhiên là thấy nhiều cụm hoa mà mỗi đóa hoa chứa đựng một con sâu bé nhỏ, màu vàng Trước vẻ ngạc nhiên của quan phủ, chủ vườn vội giải thích: “Kính bẩm thượng quan, đây là một loại hoa hiếm có tại xứ ta, chỉ có thể trồng taị phủ nhà mà thôi! Con sâu bé nhỏ này tiết ra một chất nhờn, giúp hoa tỏa mùi hương sực nức, chiếm cả một không gian rộng lớn. Khi sâu chết đi, đóa hoa úa tàn. Cả sâu lẫn hoa lại trở thành phân bón. Người địa phương gọi loại sâu này là Hoàng khuyển.
Thì ra Hoàng khuyển mà VAT đề cập trong câu thơ của ông là tên một loài sâu chớ không phải là “con chó vàng” như TĐP đã ngộ nhận. Một niềm hối hận lẫn hổ thẹn len vào hồn. Hổ thẹn vì sự thiếu hiểu biết của mình, hối hận vì đã phê bình VAT một cách quá vội vã, không tìm hiểu chín chắn ý nghĩa những chữ trong hai câu thơ của ông!
Kết luận giai thoại này, chúng ta thấy:
VAT là người từng trải. Trước khi về triều, ông đã từng phó nhậm nhiều nơi. Nhờ đó mà ông thấy nhiều, biết nhiều và nhớ nhiều. Để ghi lại kỷ niệm những nơi đã đi qua, VAT sáng tác hai câu thơ treo tại sảnh đường:
“Minh nguyệt sơn đầu khiếu.
“ Hoàng khuyển ngoạ hoa tâm”.
TĐP, mặc dầu là một danh sĩ nổi tiếng, nhưng chưa từng đi đó đi đây nhiều nên không biết có một loài chim tên gọi “Minh nguyệt” và một loài sâu tên gọi “Hoàng khuyển”. Do đó, ông ngỡ là VAT đã sai trong thuật dụng ngữ nên vội buông lời phê bình và sửa thơ của VAT, tự đưa mình vào thể “dở khóc dở cười”.
b) Thi Phẩm Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế
Một đêm neo thuyền tại bến Cô Tô, Trương Kế - một thi hào thời thịnh Đường - cảm hứng sáng tác một bài thơ tứ tuyệt với nhan đề “Phong Kiều Dạ Bạc”. Thi phẩm này thường được biết qua hai câu cuối:
“Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự
“Dạ bán thanh chung đáo khách thuyền
(“Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
“Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn sơn)
Vì không thấu rõ nguồn gốc thi phẩm Phong Kiều Dạ Bạc nên có người nghĩ rằng các chùa thường chỉ thỉnh chuông vào lúc công phu sáng và công phu chiều; chùa nào thỉnh chuông vào nửa đêm để Trương Kế: “Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn”? Sau đây là nguồn cội của hai câu thơ vừa ghi:
Vào một đêm đầu tháng, sư cụ chùa Hàn Sơn dạo chơi trước sân chùa. Đêm khuya tĩnh mịch, vầng trăng non e ấp, thẹn thùa sau dãy phi lao trước cổng. Cảm hứng, sư cụ gieo vần, định sáng tác một bài thơ tứ tuyệt, nhưng mới được hai câu nguồn thi hứng bỗng ngưng đọng. Sư Cụ nghĩ mãi vẫn không tìm được hai câu kết. Đúng vào lúc ấy, chú tiểu đệ tử của sư cụ từ trong bước ra sân chùa:
- Bạch sư phụ, chẳng hay sư phụ có đìều chi lo nghĩ?
- À! thầy đang tìm hai câu kết cho bài tứ tuyệt “Vọng Sơ Nguyệt” mà nghĩ mãi chưa xong!
- Bạch sư phụ, xin sư phụ cho con được nghe hai câu thơ của sư phụ.
- “Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung,
“Bán tựa ngân câu, bán tựa cung.
Nhìn lên không trung, thấy vần trăng non, nhìn xuống hồ sen, thấy bóng trăng non rọi chiếu,
chú tiểu cảm khái, xin sư cụ cho phép hoàn tất bài “Vọng Sơ Nguyệt” với hai câu mà chú mới nghĩ ra. Được phép của sư phụ, chú tiểu khẻ ngâm:
“Nhứt phiến ngọc hồ phân lưởng đoạn:
“Bán trầm thủy để, bán phù không.
Sư cụ vổ tay tán thưởng. Mừng vì có đệ tử thông minh, tài giỏi và thi phẩm “Vọng Sơ Nguyệt” được hoàn tất, sư cụ khẻ ngâm toàn bài:
“Sơ tam sơ tứ, nguyệt mông lung
“Bán tựa ngân câu, bán tựa cung
“Nhứt phiến ngọc hồ phân lưởng đoạn
“Bán trầm thủy để, bán phù không.
dịch
“Đêm nay đầu tháng trăng mờ
“Nửa như móc bạc, nửa ngờ vành cung
“Hồ xanh phân xẻ làm đôi
“Nửa chìm đáy nước, nửa cài không trung
Tản Đà
Sau đó, sư cụ bảo đệ tử vào chánh điện thỉnh một hồi chuông để sư cụ lạy tạ ơn Tam Bảo. Khi hồi chuông ngân dài trong đêm vắng thì dưới thôn xóm vùng cận sơn, tiếng trống ở điếm canh cũng báo hiệu đã sang đầu giờ Tý.
Cùng lúc sư cụ và đệ tử sáng tác thi phẩm “Vọng Sơ Nguyệt”, dưới bến Cô Tô, Trương kế cũng gieo vần để tả cảnh sông vắng trong đêm trăng mờ. Ông hứng khởi bằng hai câu:
“Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
“Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Đến đây, Trương Kế cũng cạn nguồn thi hứng, nghĩ mãi không ra hai câu kết. Đang triền
miên suy nghĩ để tìm ý thơ, bỗng nghe hồi chuông vang dội từ đỉnh Hàn Sơn, hồi chuông mà chú tiểu thỉnh theo lịnh của sư cụ. Hồi chuông ấy đã khơi lại nguồn thi hứng nơi Trương Kế. Nhờ đó, ông tìm được hai câu kết và hoàn tất bài “Phong Kiều Dạ Bạc”:
“Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự
“Dạ bán thanh chung đáo khách thuyền
Cao hứng, Trương Kế, khẻ ngâm toàn bài thơ:
“Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
“Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
“Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự
“Dạ bán thanh chung đáo khách thuyền
Dịch
“Trăng tà tiếng quạ kêu sương
“Lửa chài cây ánh, sầu vương giấc hồ.
“Thuyền ai đậu bến Cô Tô
“Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn
(Tản Đà)
Kết luận giai thoại này, chúng ta thấy:
Thật ra,nếu chỉ đọc thi phẩm “Phong Kiều Dạ Bạc” không thôi, thì ai cũng phải thắc mắc: Tại sao chùa Hàn Sơn lại thỉnh chuông vào lúc nửa đêm? Tuy nhiên, thắc mắc xong, nghĩ cũng nên tìm hiểu tại sao một thi hào như Trương Kế lại thiên về niêm luật để lảng quên ý thơ. Nếu chưa tìm được lý do, tốt hơn hết không nên vội phê bình như anh bạn trung học của kẻ viết bài này đã làm cách nay gần 60 năm. Nhưng cũng nhờ đó mà Thầy Việt văn chúng tôi mới giảng cho chúng tôi về thi phẩm “Phong Kiều Dạ Bạc” của Trương Kế và thi phẩm “Vọng Sơ Nguyệt” của sư cụ chùa Hàn Sơn..
Sau khi giảng xong hai thi phẩm nói trên, Thầy Việt văn chúng tôi ân cần khuyên nhủ: Mọi việc trên đời này đều chằng chịt chặt chẽ với nhau, chặt chẻ đến độ ta “không thể gây xao động cho một cành hoa dưới đất mà không làm cho một vì sao trên trời bị xao động.” Bất cứ việc gì cũng có đầu, có đuôí. không thể ngắt một đoạn của câu chuyện để đem ra phê bình; làm như thế sự phê bình trở nên phiến diện, khiến cho sự phê bình không làm trọn nhiệm vụ của nó: đóng góp cho tiến bộ. Vã lại đối với người ngoại cuộc, mọi việc đều hàm chứa ít nhiều ẩn số. Chưa nắm vững được những ẩn số ấy, nghĩ không nên vội đưa ra lời phê bình.
B. THÁI ĐỘ CỦA ĐỐI TƯỢNG PHÊ BÌNH
Có nói, có viết, có làm là có thể có sai lầm và thiếu sót! Đã chấp nhận viết, chấp nhận nói, chấp nhận dấn thân thì cũng phải chấp nhận sự phê bình, hiểu theo nghĩa xây dựng và đứng đắn của nó.
Được phê bình một cách xây dựng và đứng đắn, đối tượng phê bình cần bình tỉnh và sáng suốt để phân biệt đúng, sai.
Nếu người phê bình sai, đối tượng phê bình nên có thái độ thân thiện, bao dung như trường hợp VAT và TĐP. Trong trường hợp này, chúng ta thấy TĐP thiếu xây dựng trong việc phê bình vì đã không trực tiếp góp ý với VAT mà lại dèm pha VAT với bằng hữu. Thế mà VAT đã tỏ ra rộng lượng với họTô. Thay vì, nặng lời với người phê bình mình, VAT đã xử sự một cách rất tê nhị bằng cách tạo cho TĐP những cơ hội để tự mình nhận thức sự sai lầm của chính mình. Cách xử sự của tể tướng VAT chắc hẳn đã làm cho TĐP khâm phục, cảm mến và biết ơn; tình cảm của hai người, do đó, không hề sứt mẻ.
Nếu người phê bình đúng, đối tượng phê bình cần thành khẩn phục thiện, không giận hờn, thù hằn và tìm cách sửa sai theo lời phê bình xây dựng. Được phê bình một cách xây dựng và đứng đắn mà đối tượng phê bình lại phản ứng một cách giận dữ như “đỉa phải vôi”, thậm chí nếu có quyền hành trong tay còn chụp lên đầu người phê bình cái mũ “phản động” để “quản chế”, cầm tù hay “cải tạo” hoặc “bao vây kinh tế” thì vô hình chung đối tượng phê bình đã phơi bày bản chất độc tài, cá tánh độc đoán của mình! Thái độ đó của đối tượng phê bình không những làm nản lòng những người có thiện tâm, thành ý trong việc phê bình, đóng góp ý kiến xây dựng mà còn khiến cho đối tượng phê bình nuôi dưỡng tánh tự kiêu, tự đại của chính mình. Do đó, khi thấy chính sách, đường lối đem lại hậu quả tai hại, đối tượng phê bình sửa sai theo ý mình, bất chấp ý kiến của người phê bình, và vì thế, sẽ lâm vào tình trạng “sai đâu, sửa đấy”, “sửa đâu, sai đấy” và “càng sửa, càng sai”! Đó là thái độ của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đối với những khuyến cáo của các nhà trí thức quốc nội, điển hình là trường hợp của luật sư Lê Chí Quang, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, nhà báo Nguyễn Vũ Bình, cựu chiến binh Nguyễn Khắc Toàn. Và đó cũng là thái độ của nhà cầm quyền Hà nội đối với luật sư Nguyễn Mạnh Tường và bài diễn văn “Qua Những Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất, Xây Dựng Quan Điểm Lãnh Đạo” ông đọc trong một cuộc họp của Mặt Trận Tổ Quốc tại Hà-nội vào ngày 30-10-1956.
Dù nghĩ rằng người phê bình đúng hoặc sai, đối tượng phê bình cũng nên khuyến khích người phê
bình tiếp tục đóng góp ý kiến xây dựng trong tương lai. Về điểm này, hai học giả Giản Chi và Nguyễn
Hiền Lê có kể câu chuyện “Trâu Kị khuyên vua Tề nên nghe lời can gián” (Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, Sách đã dẫn, trang 282):
“Nước Tề vuông ngàn dậm, có tới một trăm hai chục thành; cung nữ và kẻ tả hữu trong cung có ai dám không tuân phục Đại Vương; đình thần có ai không sợ Đại Vương; người trong bốn cõi có ai không cầu cạnh Đại Vương. Xem như thế đủ biết Đại Vương bị cô lập nhiều lắm rồi nghĩa là Đại Vương ít có dịp nghe lời thật!”
Tề Uy Vương công nhận lời nhận xét của Trâu Kỵ rất xác đáng và hạ lịnh như sau:
“Quan lại và dân chúng ai chỉ trích thẳng vào mặt quả nhân một lỗi nào thì sẽ được thưởng hạng nhứt; ai dâng thư can gián quả nhân thì được thưởng hạng nhì; ai chê bai quả nhân ở chợ hoặc ở triều đình, mà đến tai quả nhân thì được thưởng hạng ba.
Mặt khác, đối tượng phê bình cần tỏ ra lúc nào cũng sẵn sàn chấp nhận những ý kiến xây dựng, dù đúng dù sai bằng cách thảo luận với người phê bình về những ý kiến của đương sự. Chấp nhận nói đây không có nghĩa là làm theo, nghe theo ý kiến của người.phê bình; nghe theo và làm theo khi nào nghĩ và thấy rằng sự góp ý của người phê bình là đúng. Điều này đòi hỏi nơi đối tượng phê bình sự sáng suốt, tinh thần khách quan và sự nghiêm túc.
Nhiều trường hợp vì thiếu sáng suốt, không khách quan, thiếu nghiêm túc, đối tượng phê bình đã tạo ra những hậu quả tai hại cho bản thân hoặc cho đất nước. Sau đây xin lược thuật vài thí dụ điển hình.
1. Tống Mẫn Công và Quan Đại Phu Cừu Mục
Trong quyển“Thuật Xử Thế Của Người Xưa” (sách đã dẫn, trang 38-39), học giả Thu-Giang Nguyễn Duy Cần kể một câu chuyện trong đó một đối tượng phê bình vì chủ quan và thiếu nghiêm túc đã phải chuốc họa vào thân. Sau đây là câu chuyện:
Nam Cung Trường Vạn (NCTV), một võ tướng của Tống Mẫn Công (TMC), chẳng may bị quân nước Lỗ bắt. TMC cho người đến xin Lỗ Trang Công tha cho NCTV trở về nước. Khi thấy NCTV, TMC nói đùa: “Ngày trước, ta kính trọng ngươi; bây giờ ngươi là tù nhân nước Lỗ, ta không kính trọng nữa” NCTV thẹn đỏ mặt, cáo từ lui ra.
Quan đại phu Cừu Mục tâu riêng với TMC: “Vua tôi giao tiếp với nhau, cần phải giữ lễ, không nên đùa bởn. Đã đùa bởn thì lòng hết kính mà lòng lại sinh ra mối phản nghịch. Chúa công nên nghĩ kỹ đến điều ấy”. TMC không nghe lời khuyên của Cừu Mục: “Ta với NCTV là chỗ thân tình, cần gì điều ấy.”
Một ngày nọ, TMC cùng NCTV đánh cờ. NCTV thua luôn mấy ván, phải bị phạt uống một bát rượu lớn. NCTV đã ngà ngà say, trong lòng không phục, xin đánh thêm ít ván nữa. TMC trả lời: “Tù nhân thì tất phải thua, lại còn dám xin đánh nữa à!” NCTV xấu hổ, không nói gì. Bỗng có sứ giả nhà Châu đến báo tin vua Trang Vương mất và vua Hy Vương mới lên ngôi. TMC nói: “Nhà Châu có vua, vậy ta phải sai người vào triều.” NCTV thưa: “Tôi nghe nói kinh đô nhà Châu đẹp lắm, mà mắt chưa được xem, xin chúa công cho tôi đi sứ.” TMC lại đùa: “Khi nào Tống không còn ai nữa mới sai tù nhân đi sứ.” Các cung nhân cười ầm cả lên. NCTV mặt đỏ bừng, thẹn quá chẳng còn nghĩ gì đến lễ chúa tôi, quát to lên: “Hôn quân! Mầy phải biết tù nhân nầy cũng có thể giết người lắm chớ!” TMC nổi giận, giựt lấy kích của NCTV; NCTV thuận tay vác bàn cờ đánh TMC ngã xuống, rồi đâm luôn mấy nhát. TMC tắt thở. NCTV làm phản luôn và lập vua khác lên ngôi.
Kết luận giai thoại này, chúng ta thấy:
Nếu đối tượng phê bình là Tống Mẫn Công nghiêm túc, không chủ quan và nghe lời gián nghị của Cừu Mục thì đã không nói đùa làm tổn thương tự ái của Nam Cung Trường Vạn đến ba lần, biến thân tình chúa tôi thành mối tử thù và làm sụp đổ một triều đại!
2. Đình Thần Dưới Triều Vua Tự Đức
Dưới triều vua Tự Đức, những điều trần về việc thay đổi chánh trị, sửa sang việc nước, nhà vua đều giao cho đình thần cứu xét. Đình thần là các quan ở trong triều giúp vua lo việc nước. Trong “Việt Nam Sử Lược - Quyển II” do Trung Tâm Học Liệu thuộc Bộ Giáo Dục xuất bản năm 1971, trang 240-241, Sử gia Trần Trọng Kim có kể một số điều trần bị đình thần bác bỏ:
a) Điều trần của Nguyễn Trường Tộ
Năm Bính Dần (1866 - năm Tự Đức thứ 19), Nguyễn Trường Tộ đi du học về đệ trình mấy bản điều trần, phân tích tình hình trong nước đối chiếu với tình hình các nước và “thỉnh cầu nhà vua phải sớm thay đổi chánh trị, nếu không sẽ mất nước”. Vua phú những bản điều trần ấy cho các quan duyệt xét. Các quan không tin những điều Nguyễn Trường Tộ tấu trình và thẳng tay bác bỏ.
b) Điều trần của Đinh Văn Điền
Năm Mậu Thìn (1868 - năm Tự Đức thứ 21 ), “Đinh Văn Điền, quê ở Ninh Bình, dâng bản điều trần đề nghi những điều ích quốc lợi dân như đặt doanh điền, khai khẩn mỏ vàng, làm tàu hỏa, cho người các nước tây phương vào buôn bán, tập luyện binh sĩ, tăng lương thực cho quan quân, bớt sưu dịch cho dân, nuôi dưởng những người tàn tật”. Đình thần bác bỏ vì cho rằng những đề nghị ấy không hợp thòi, đúng lúc.
c) Điều trần của các quan đi sứ các nước
Các quan đi sứ các nước về tâu trình những điều mắt thấy tai nghe tại xứ người và đề nghị những sửa đổi cần thiết:
Năm Kỷ Mão (1879 – năm Tự Đức thứ 32), Nguyễn Hiệp đi sứ Xiêm quốc về tâu rằng “nước này đã chấp thuận giao thương với Anh quốc. Do đó, Anh quốc không có lý do gì để xâm lăng Xiêm quốc. Sau đó Xiêm quốc còn cho cả Pháp, Ý, Hoa kỳ vào buôn bán”.
Năm Tân Tị (1881 – năm Tự Đức thứ 34), Lê Đĩnh đi sứ Hương cảng về tâu rằng: ”Các nước Thái Tây mà phú cường là chỉ cốt ở việc binh và buôn bán. Lấy binh lính mà bênh vực việc buôn bán, lấy việc buôn bán mà nuôi binh lính. Gần đây, Nhật bản theo các nước Thái Tây, cho người đi buôn bán khắp nơi . Nước Tàu cũng bắt chước cho người ngoại quốc ra vào buôn bán. Nước ta, người khôn ngoan, lại có lắm sản vật, nên theo người ta mà làm thì cũng có thể giữ được quyền độc lập của nước nhà.”
Vua Tự Đức phú cho đình thần duyệt xét với lời khuyến nghị: “Các quan xét việc thì nên cẩn thận và suy nghĩ cho chín, nhưng cũng nên làm thế nào cho tiến bộ, chứ không tiến thì thoái vậy”. Tuy thế, đình thần vì lý do này hay lý do khác đã bác bỏ các đề nghị của các sứ giả.
Sử gia Trần Trọng Kim có nhận xét như sau về đình thần lúc bấy giờ: “Các quan thì số người biết thì ít, số người không biết thì nhiều. Những người có quyền tước thì lắm người trông không rõ, nghe không thấy, chỉ một niềm giữ thói củ cho tiện việc mình. Lại có lắm người tự nghĩ rằng mình đã quyền cả ngôi cao, thì tất là tài giỏi hơn người, chứ không hiểu rằng cái tài giỏi không cần phải nhiều tuổi; sự khôn ngoan không phải làm quan to hay là quan nhỏ. Cái phẩm giá con người cốt ở tư tưởng, học thức và tư cách, chứ không phải ở tiền của hay quyền tước. Đã hay rằng vua có trách nhiệm vua, quan có trách nhiệm quan, dẫu thế nào vua Dực Tông (niên hiệu Tự Đức) cũng không tránh khỏi cái lỗi với nước nhà, nhưng mà xét cho xác lý, thì cái lỗi của đình thần lúc bấy giờ cũng không nhỏ.”
(Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, trang 241)
Kết luận giai đoạn nầy, chúng ta thấy:
Nếu đình thần dưới triều vua Tự Đức sáng suốt, biết lắng nghe lời điều trần của các sứ giả mà tấu trình xin nhà vua sửa sang việc nước, loại bỏ chánh sách bế môn tỏa cảng như Minh Trị Thiên Hoàng của Nhật bản thì biết đâu Việt Nam đã chẳng thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang!
Đoạn Kêt
Phê bình thật sự đóng góp cho tiến bộ khi nào đối tượng phê bình sáng suốt, không có tánh tự cao tự đại để xét nghiệm một cách khách quan và nghiêm túc lời góp ý xây dựng của ngưòi phê bình và nếu thấy đúng thì sẵn sàng sửa sai. Dĩ nhiên thái độ phục thiện nói đây cũng tùy thuộc một phần lớn vào sự tế nhị của người phê bình khi đưa ra những lời nhận xét và góp ý. Như đã viết, lắm khi vì vô tình, người phê bình có những lời lẽ thiếu tế nhị, khiến cho đối tượng phê bình phật lòng và không chấp nhận lời góp ý của người phê bình là đúng. Xin nói rõ là nhận xét này không thể áp dụng cho trường hợp các bản điều trần của các sứ giả nói trên bởi lẽ các lời gián nghị tâu trình lên vua không thể thất thố và thiếu tế nhị được. Sở dỉ các lời điều trần không được lắng nghe có lẽ vì đình thần lúc bấy giờ quá chủ quan và thiếu sáng suốt nếu không muốn nói là quá tự cao tự đại hoặc có óc tự mãn. Đây cũng là thái độ của nhà cầm quyền CSVN và thái độ ngoan cố này đã gây căm phẫn cho những người có nhiệt tâm muốn đóng góp vào việc đem lại tự do, dân chủ và nhân quyền cho đất nước, điều kiện tiên quyết để đất nước vươn lên, theo kịp đà phát triển của các nước trong vùng .