TỔ QUỐC lâm nguy nguyện dấn thân
Phục hồi DANH DỰ trả toàn dân
Mọi người TRÁCH NHIỆM chumg vai gánh
Dân Chủ, Tự Do quyết đoạt thành!
Kính thưa đồng bào ở quốc nội,
Hôm nay chúng tôi muốn có vài nhận định về trường hợp phiên toà của Linh mục Nguyễn Văn Lý diễn ra vào thứ sáu tuần trước, ngày 30 tháng 3. Thưa quý đồng bào, nhìn hình ảnh của tên cộng sản bịt miệng cha Lý với bàn tay gân guốc, chúng ta thấy có 2 cảm tưởng sâu đậm đến với chúng ta qua hình ảnh đau thương của một người đã bị thế giới cộng sản bịt miệng không cho nói. Cái hình ảnh đó tố giác rằng tất cả những gì mà Việt Cộng tuyên bố chuyển qua hình ảnh bằng bạo lực, ngay cả tiếng nói cũng không được nói. Một người dù vô cảm đến đâu, thì cũng phải động tâm về vấn đề đó.
Chúng tôi có 2 suy nghĩ sau đây: thứ nhất, cộng sản Việt Nam đã làm điều đó để chứng tỏ rằng CSVN có những quyền hạn không ai hay áp lực ngoại quốc có thể can dự vào. Chúng tôi xin thưa đây, là Hoa Kỳ và thế giới tây phuong phải chịu một phần trách nhiệm. Tại sao ? Tại vì Hoa Kỳ và thế giới tây phương đã vô hình chung ủng hộ cái chính sách hiện có của CS, bằng cách để cho cộng sản Việt Nam tham dự vào WTO, cởi mở cái CPC của bộ ngoại giao Hoa Kỳ. Đó là 2 điểm thúc đẩy cộng sản Việt Nam có khả năng đàn áp và Tây phương không can dự vào. Đó là điều chúng tôi cần nêu rõ với đồng bào ở quốc nội.
Xin thưa, với toà án dựng lên cho Cha Lý, thêm một lần nữa đánh tan một số dư luận đồng bào hải ngoại cũng như đồng bào ở quốc nội bị bưng bít, rằng cha Lý chỉ là con cờ của cộng sản Việt Nam để thực hiện cái nghị quyết 36. Cũng như bắt những người theo Cha Lý làm những con cờ để đó. Chúng tôi thật sự nghĩ rằng Lm Nguyễn Văn Lý là một nhà đấu tranh cho tự do dân chủ, mà chúng tôi rất tiếc là một số đông các tôn giáo, ở quốc nội cũng như ở hải ngoại không lên tiếng mạnh đủ để đánh động lương tâm thế giới. Đó là điều đáng tiếc. Chúng tôi xin thiết nghĩ, trong những ngày tới, chúng ta cần đánh mạnh hơn nữa để thế giới thấy một chế độ toàn trị. Cường quyền đã đến lúc cần phải bị kiểm soát, để Viêt Nam càng thêm cởi mở tự do. Xin cám ơn đồng bào.
TS Mai Thanh Truyết
Năm 1975, từ khi nước nhà hoàn toàn thống nhất, Việt Nam đã bắt đầu đặt kế hoạch phát triển trên toàn thể quốc gia. Từ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đến 5 năm lần thứ hai. Nhưng trong hai kế hoạch ngũ niên đầu tiên nầy, mọi cố gắng của Việt Nam đã đưa đất nước lâm vào tình trạng thực sự kiệt quệ và bế tắc. Sinh hoạt kinh tế hầu như thất bại hoàn toàn. Việt Nam gần như đứng bên lề vực thẳm.
Năm 1986, đứng trước hiễm họa diệt vong, chính sách phát triển của Việt Nam đã rẽ sang một bước ngoặc, Việt Nam bắt buộc phải mở cửa để chào gọi đầu tư ngoại quốc hầu cứu nguy nền kinh tế đang kiệt quệ. Từ đó, kinh tế Việt Nam lần lần đi lên từng bước một. Nông ngư nghiệp phát triển và nông dân bắt đầu tương đối có đủ lương thực và không còn ăn độn như những năm trước đó nữa.
Lợi tức đầu người từ 180 Mỹ kim (1980) tăng dần từ 7 đến 9% mỗi năm tiếp theo. Nhưng cho đến năm 1997, mức tăng trưởng khựng lại vào khoảng 4- 5% cho đến những năm sau 2000. Từ đó Việt Nam bắt đầu lại vươn lên và đạt được mức tăng trưởng trung bình hàng năm vào khoảng 7- 9% trong nhiều năm liền. Đến năm 2004, lợi tức đầu người lên đến 450 Mỹ kim, tuy nhiên vẫn còn cách xa so với mức tăng trưởng của Trung Quốc là 900 Mỹ kim ($200/người/năm trong năm 1980). Và vào năm 2006, lợi tức đầu người Việt Nam tăng lên khoảng $650:00; nhưng ngược lại, khoảng cách giàu-nghèo ngày càng lộ rõ, nhất là ở những vùng xa thành thị.
Bên cạnh việc phát triển và tăng trưởng kinh tế kể trên, Việt Nam lại phải đối mặt với một vấn nạn môi trường do phát triển ngày càng trầm trọng thêm ra. VaØ vấn nạn nầy là một thách thức lớn nhất của Việt Nam trong những ngày sắp đến.
Mục đích của bài viết là trình bày lần lượt hai yếu tố nổi bật ảnh hưởng đến môi trường qua 32 năm phát triển của Việt Nam. Đó là sự phá rừng và sự gia tăng dân số cùng những hệ lụy nảy sinh từ hai yếu tố trên.
Ảnh hưởng môi trường qua việc phá rừng
Trước chiến tranh thứ hai, diện tích rừng nguyên sinh của Việt Nam là 19 triệu mẫu chiếm 58% diện tích cả nước. Cho đến năm 1943 rừng chỉ còn lại 14,1 triệu mẫu (43%); và đến năm 1990 tình trạng càng tệ hại hơn nữa, diện tích rừng chỉ còn 9,1 triệu mẫu (27,7%). Theo báo cáo năm 2002 của Ngân hàng Thế giới (WB), kễ từ năm 1999 trở đi, hàng năm mức độ đốn rừng để xẻ gỗ được ước tính là 2 triệu m3. Ngoài ra còn phải kể đến việc cháy rừng vào mùa khô và việc chuyển đổi rừng trong việc nuôi tôm như vùng rừng tràm, đước ở Cà Mau.
Việt Nam cũng có chương trình trồng rừng sau khi nhận thức được nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường trong việc phá rừng bừa bãi. Do đó, “chương trình trồng rừng 327” đã được phát động từ năm 1994 đến nay. Chỉ tiêu cho đến năm 2010 là cố gắng trở lại mức bình thường vào thời điểm 1943, nghĩa là từ bây giờ cho đến cuối kế hoạch phải trồng thên 5 triệu mẫu rừng, chưa kể đến số diện tích rừng bị hủy diệt hàng ngày. Chi phí trồng rừng được ước tính là 1,1 triệu Mỹ kim/mẫu. Và Việt Nam nếu muốn đạt chỉ tiêu nầy thì hàng năm phải trồng thêm 1.000.000 mẫu rừng. Do đó tính khả thi của chương trình trồng rừng 327 khó có khả năng thực hiện được.
Về ĐBSCL, trong hiện tại chỉ còn 5% rừng che phủ và đã mất đi khoảng 175.000 mẫu rừng ngập mặn tính đến 2003. Rừng ngập mặn ở nơi nầy thể hiện nhiều lợi điểm sau đây: 1- chống lại sự xói mòn của biển, 2- hạn chế được sự nhiễm mặn vào sâu trong vùng đất liền, 3- và nhất là bảo vệ được đa dạng sinh học cho toàn vùng. Kỹ nghệ nuôi tôm đã đánh mất đi các lợi điểm nầy và hiện đang để lại một di hại không nhỏ cho toàn vùng hiện tại.
Về đất, hậu quả trước mắt ảnh hưởng từ việc phá rừng là sự thoái hóa của đất. Đất mất đi độ phì nhiêu và sự cân bằng dinh dưởng. Lớp đất thịt trên mặt sẽ bị cuốn trôi sau những cơn mưa lũ vì không còn cây và rễ để giữ đất lại. Điều nầy được tỏ rõ trong năm 2001, lần đầu tiên trong lịch sử nước sông Hương (Huế) đã biến thành đục và độ pH trở thành kiềm trong mùa khô.
Ngoài sự thoái hóa của đất do nguyên nhân trên, sau gần 20 năm mở cửa và phát triển ồ ạt trong nông nghiệp, Việt Nam mất đi 2 tỷ tấn đất/năm (nguyên nhân chính yếu là do việc phá rừng) hay tính trung bình đất bị xói mòn tùy theo vùng và đã thất thoát từ 50 – 3200 tấn/mẫu/năm ảnh hưởng đến 23 triệu mẫu trên toàn quốc, chiếm 70% diện tích quốc gia.
Về nước, theo báo cáo của Ban Chỉ đạo Quốc gia về Cung cấp Nước sạch và Vệ sinh môi trường năm 2003, nguồn nước ở Việt Nam ngày càng bị khan hiếm và ô nhiễm. Sự thoái hóa nầy tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng trưởng kinh tế, nhất là ở những năm gần đây. Nhu cầu nước cho nông nghiệp chiếm 88%, và cho kỹ nghệ chiếm 7%.
Các nguồn nước thải từ khu gia cư, từ các trung tâm kỹ nghệ, khu chế xuất, đất nông nghiệp v.v...đã xâm nhập vào nguồn nước mặt, nước ngầm, thậm chí ảnh hưởng đến phẩm chất nước ở vùng duyên hải nữa. Nước sinh hoạt gia cư, nước thải kỹ nghệ, và nước rỉ từ các bãi rác là nguyên nhân chính yếu cho việc ô nhiễm hữu cơ trong nguồn nước mặt đặc biệt ở các thành phố lớn như TpHCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẳng, Cần Thơ v.v... căn cứ theo báo cáo trên.
Về vùng duyên hải, trong vòng 3 thập niên trở lại đây, hơn 96% san hô của Việt Nam đều bị ảnh hưởng do tác động của con người như đánh bắt cá bằng thuốc nổ, bằng hóa chất độc hại như cyanur, hoặc bị nhiễm độc do phế thải, đặc biệt ở vịnh Hạ Long, Cát Bà (Hải Phòng), Ninh Thuận, Bình Thuận, và Khánh Hòa. Theo một nghiên cứu thăm dò từ năm 1994 đến 1997 tại 142 địa điểm san hô dọc theo bờ biển Việt Nam, kết luận của bảng thăm dò cho thấy chỉ còn độ 1% tổng lượng san hô chưa bị ô nhiễm xâm nhập mà thôi. Riêng tại khu vực duyên hải miền Bắc, theo ước tính của Hải học Viện Nha Trang thì trong vòng 20 năm trở lại đây, công nghệ khai thác than Quảng Ninh và các vùng phụ cận đã hủy diệt trên 50% lượng san hô ở vùng biển nầy.
Ảnh hưởng do sự gia tăng dân số
Với diện tích 325.000 Km2 trong đất liền và 336.000 Km2 nếu tính luôn các hải đão, Việt Nam phải đối mặt với sự gia tăng dân số trầm trọng từ 44 triệu vào năm 1975 lên đến trên 84 triệu năm 2006. Mật độ trên 1 Km2 tăng từ 135 người đến 252 người. Toàn thể Việt Nam hiện tại có khoảng 12 triệu mẫu đất canh tác cho trồng trọt và chăn nuôi. Chính sự gia tăng dân số quá nhanh ngay sau khi chiến tranh vừa chấm dứt là một trong những nguyên nhân chính cho việc phá rừng. Cùng với mức gia tăng trên, và do nhu cầu sinh tồn, con người đã làm cho môi trường ngày càng xuống cấp nhanh hơn qua việc đốt rừng làm rẫy, độc canh trên đất dốc, đồi núi mà không có biện pháp chống xói mòn. Về trồng trọt, vì không được hướng dẫn cho nên việc luân canh không có kỹ thuật, không hợp lý cũng như không có kế hoạch, nhất là các loại cây công nghệ như: mía, khoai mì, khóm, lúa, đậu v.v...
Thêm nữa, cũng vì mức gia tăng dân số cho nên đất đã bị xử dụng liên tục, không có thời gian nghĩ ngơi để lấy lại sự cân bằng thiên nhiên. Cũng như vì nhu cầu tưới tiêu, cho nên nông dân không ngần ngại xử dụng nguồn nước thiếu phẩm chất như nước phèn, nước lợ....và hậu quả tất nhiên của việc làm nầy là mức độ nhiễm mặn, nhiễm phèn lấn sâu vào lục địa và đất đang có nguy cơ trở thành sa mạc hóa trong tương lai, và không thể phục hoạt được.
Việc di dân từ các vùng cao miền Bắc vào cao nguyên Trung phần không có kế hoạch rõ rết cũng như không có nguồn trợ lực về tài chính và kỹ thuật cho di dân lúc ban đầu càng làm cho nông dân gián tiếp tăng thêm mức độ suy thoái của đất trong chăn nuôi và trồng trọt cũng như mức độ ô nhiễm qua việc xử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi làm cho tiến trình hủy hoại môi trường càng nhanh hơn.
Thay lời kết
Báo cáo “Hiện trạng môi trường Việt Nam 2000” soạn thảo do Chương trình Môi trường LHQ và Trung tâm Tài nguyên Khu vực Á châu Thái Bình Dương (UNEP-RRCAP) có nêu lên ngay trong phần khai mào, có nhận định như sau:”Nói chung, cho đến nay (2000) chưa nảy sinh các vấn đề môi trường đối với các khu công nghiệp (KCN) mới”.
Hiện nay trên cả nước có tất cả 69 KCN hoặc KCX (200), có KCN nào có hệ thống xử lý nước thải, xử lý phế thải rắn, và xử lý nguồn phát thải vào không khí? Hay là, các phế thải lỏng đi vào cống rãnh và chảy thẳng vào kinh rạch rồi đổ ra sông. Còn phế thải rắn sẽ đi vào các bãi rác lộ thiên mà không qua công đoạn xử lý. Và tại những nơi có KCN đang hoạt động, không khí bị ô nhiễm hạt bụi và thậm chí có những khí độc thoát ra như khí clor, khí sulfurơ (SO2), hơi chì, benzen, và thủy ngân v.v...Báo cáo trên ghi nhận “chưa nảy sinh ra vấn đề môi trường”, thử hỏi những vấn nạn môi trường vừa nêu trên chưa phải là vấn đề môi trường hay sao?
Trong “Chiến lược Bảo vệ Môi trường Quốc gia 2001 – 2010” do Bộ Khoa học, Công nghệ & Môi trường thực hiện đã được nghiên cứu trong nhiều năm, được sự tham gia đóng góp ý kiến của nhiều nhà quản lý, nghiên cứu của hầu hết Bộ/Ngành ở trung ương và nhiều Ban/Ngành ở các địa phương. Nhiều nhà tài trợ và chuyên gia nước ngoài cũng đã tham gia tư vấn và hoàn thành chiến lược nầy... Và Chiến lược đã rút ra 9 giải pháp để thực hiện việc bảo vệ môi trường Việt Nam trong tương lai nhu sau:
1- Tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức về môi trường;
2- Tăng cường vai trò của cộng đồng, doanh nghiệp,
tư nhân trong bảo vệ môi trường;
3- Tăng cường và đa dạng hóa đầu tư bảo vệ môi trường;
4- Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về môi trường;
5- Mở rộng hợp tác quốc tế và thu hút sự tài trợ của quốc tế;
6- Kết hợp chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia với
chiến lược phát triển kinh tế xã hội;
7- Lựa chọn hành động ưu tiên;
8- Giám sát và đánh giá việc thực hiện chiến lược;
9- Trách nhiệm và các cơ quan thực hiện;
Tính đến nay, kế hoạch thực hiện chiến lược môi trường đang đi vào hơn giữa giai đoạn (2005), theo sự quan sát của nhiều chuyên gia nội địa và hải ngoại, 9 giải pháp đề ra vẫn chưa được thực hiện đúng mức vì chỉ là những giải pháp tô vẽ trên giấy tờ và không được khai triển ra từng kế hoạch chi tiết để có thể phối hợp hành động. Ngay cả phạm vi quản lý của nhà nước là ưu tiên hàng đầu mà luật lệ và việc phân công, phân nhiệm còn trồng tréo nhau, gây thêm khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất.
Luật Môi trường đã được cải sữa lần thứ 17 (2004) mà vẫn còn quá nhiều kẽ hở tạo điều kiện thuận lợi thêm cho những móc ngoặc và tham nhũng, cũng như nhà nước phải chịu nhiều thất thu qua các tệ trạng kể trên. Một điều căn bản chính yếu trong luật môi trường là quy định các nhà sản xuất công, kỹ nghệ phái thiết lập “báo cáo” tác động môi trường” (EIA) trước khi dự án được chấp thuận và cấp giấy phép. Nhưng cho đến nay, có gần 700.000 cơ sở công nghiệp lớn nhỏ trên toàn quốc đang hoạt động, vẫn chưa có nơi nào nộp bảng nghiên cứu tác động môi trường theo đúng quy định của luật.
Nhìn lại 32 năm quản lý môi trường 1975 – 2007 của một quốc gia Việt Nam thống nhất, đất nước đã được gồm thu vào một mối, công cuộc điều hành quốc gia được tóm gọn vào một chiều hướng duy nhất: Phát triển quốc gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Dù cố gắng tối đa để có một nhận xét tích cực, nhưng quả thật, Đất Nước Việt Nam đang đi dần đến bế tắc, nhất là 20 năm sau khi có kế hoạch mở cửa từ năm 1986.
Phát triển Việt Nam trong nông nghiệp và chăn nuôi để phục vụ cho nhu cầu xuất cảng để có một số ngoại tệ nặng, nhưng cán cân chi thu vẫn làm cho Việt Nam càng thiếu hụt thêm ra theo thời gian mặc dù có rất nhiều nguồn vốn đầu tư do ngoại quốc đổ vào. Việc xuất cảng hàng năm trung bình 5 triệu tấn gaọ, thu nhập vào khoảng trên 1 tỷ Mỹ kim, liệu có cân bằng được việc nhập cảng 9,5 tấn phân bón, cùng hàng trăm ngàn tấn hóa chất bảo vệ thực vật để có được lượng gạo xuất cảng trên hay không? Hay đó chỉ là một chính sách quản lý bao tử của người dân bằng cách bảo đảm một mức sống tối thiểu cho hàng chục triệu nông dân trên cả nước?
Việc xuất cảng hàng năm 900 triệu Mỹ kim qua việc xẻ gỗ đã để lại quá nhiều vấn nạn môi trường cho sự thất thoát rừng và những hệ lụy đã được phân tích ở phần trên, và mức thu nhập nầy có thể khỏa lấp được những mất mát do vấn nạn trên hay không? Hay nguồn tài nguyên căn bản của đất nước đang bị hao mòn dần?
Theo một báo cáo mới nhất về Chỉ số Môi trường Bền vững 2006 (2006 Environmental Sustainability Index) do Diễn đàn kinh tế nhóm họp tại Davos (Thụy Sĩ) vào tháng 3, 2007, Việt Nam đã đứng cuối bảng trong các quốc gia ASEAN. Đó là Plilippine đứng đầu với 69,4 điểm, Thái Lan với 66,8 điểm, Indonesia với 60,7, Miến Điện với 57,0, và Việt Nam đứng sau với 54,2 điểm (Trung Quốc chiếm 58,2 điểm). Chỉ số trên đo đạc do nhóm giáo sư ở Đại học Yale và Columbia (Hoa Kỳ) thực hiện, căn cứ vào 21 chỉ số môi trường như sau: khí thải nhà kính, phẩm chất nước, không khí, đất, sức khỏe môi trường, trình độ khoa học và công nghệ, khả năng quản lý tài nguyên, khả năng giải quyết áp lục môi trường v.v... So với 133 quốc gia nằm trong cuộc khào sát trên thế giới, Việt Nam được xếp vào hạng 99, tụt xuống một hạng so với năm 2005.
Tóm lại, mọi kế hoạch, định hướng, chiến lược đã được Việt Nam đề xướng từ 30 năm qua đã không được thi hành nghiêm chỉnh và đúng đắn, cũng như việc phát triển quốc gia hoàn toàn không đồng bộ với việc bảo vệ môi trường. Do đo,ù hệ quả đương nhiên là tình trạng môi trường ngày càng xuống cấp tệ hại và cho đến nay, mọi biện pháp cứu chữa hầu như không thể thực hiện được.
Tuy nhiên, vào tháng 10,2003, trong một cuộc họp báo của Thủ tướng Việt Nam thời bấy giới là Phan Văn Khải có tuyên bố rằng: “Phát triển kinh tế và xã hội theo định hướng công nghiệp hóa”. Có thể đây là một chỉ dấu mơíù của chính sách kinh tế của Việt Nam hay không? Hay là chuổi từ “định hướng xã hội chủ nghĩa” theo sau chiến lược phát triển kinh tế cho đến nay có thể đã được lãnh đạo Việt Nam nhìn nhận là đã thất bại và cần phải chuyển hướng tư duy?
Nhưng cho đến hôm nay, định hướng công nghiệp hóa chỉ là một chỉ đạo trêm lý thuyết. Nhưng trên thực tế, sự phát triển công nghiệp của Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào nguồn vốn IDA với kế hoạch dựa theo khuynh hướng đầu tư theo sự chủ động của ngoại quốc mà không tuân thủ theo một kế hoạch phát triển toàn bộ thích ứng với điều kiện Việt Nam cùng cân bằng với việc bảo vệ môi trường.
Tóm lại, phát triển quốc gia không đi kèm với việc quản lý và kiểm soát môi trường sẽ đưa đất nước đến tình trạng kiệt quệ về tài nguyên và môi trường bị thoái hóa. Phát triển quốc gia không đi kèm với dân chủ hóa và nhân quyền hóa xã hội sẽ đưa đất nước đến kề cận với thảm họa diệt vong. Vì, một khi cánh cửa dân chủ chưa mở được thì tất cả tài nguyên, tài sản quốc gia sẽ tích lũy trong tay của một nhóm thiểu số cầm quyền; do đó, phúc lợi nầy sẽ không được chia xẻ đồng đều và công bằng theo nhu cầu của xã hội. Và đây, cũng là bế tắc chính yếu cần phải tháo gở của Việt Nam do công cuộc điều hành Đất và Nước không ứng hợp với chiều hướng phát triển bền vững từ 32 năm qua.
Mai Thanh Truyết
Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam (VASTS)
Orange 30/3/2007
Có thể nói rằng ngày hôm nay còn rất nhiều người vẫn không lưu ý đến các loại thực phẩm dùng hàng ngày có sự hiện diện hay không các yếu tố chuyển đổi di truyền. Các loại thực phẩm nầy còn có tên là thực phẩm ma (Frankenstein foods). Theo ước tính của Greenpeace, một NGO quốc tế lưu tâm về cuộc cách mạng xanh cho thế giới trên thị trường hiện có khoảng 60% thực phẩm thuộc mọi thể dạng được chế biến bằng nguyên liệu có chứa yếu tố chuyển đổi di truyền.
Hầu hết các thực phẩm thuộc họ đậu trồng ở Hoa Kỳ đều có cấy giống di truyền từ một vi khuẩn (microbe) vào trong cây đậu để có thể chịu đựng và tăng trưởng bình thường đối với các hóa chất diệt cỏ dại. Tương tự, cây bắp được thêm vào một loại độc tố từ vi khuẩn (microbial toxin) để có thể tiêu diệt giống mọt (moth) hay ăn cuống lá bắp.
Trên đây là hai thí dụ điển hình về tình trạng cấy vi khuẩn làm thay đổi cơ cấu di truyền hoặc làm cho cây trái tăng trưởng nhanh, cho năng xuất cao, chống lại một số điều kiện khăc nghiệt như thời tiết lạnh hay nóng bất thường, chống lại một số hóa chất diệt cỏ dại, trừ sâu rầy, trừ nấm mốc v.v… Và kỹ thuật nầy lần lần lan dần và được áp dụng hầu hết trong việc trồng trọt ngũ cốc và cây trồng. Các quốc gia đang áp dụng kỹ thuật nầy nhiếu nhất phải kể đến Hoa Kỳ và Anh Quốc. Hiện tại đang lan dần đến Trung Quốc. Tuy nhiên, người Aâu Châu (trừ Anh Quốc) và Úc Châu phại phản ứng rất mạnh về việc ứng dụng đem yếu tố di truyền vào cây cỏ; do đó, đã có những vụ kiện tụng trước Tổ chức Thương mãi thế giới (WTO) về các sản phẩm chuyển đổi di treuỳn của Hoa Kỳ nhập vào các thị trường trên.
Kỹ thuật di truyền có thể được xem là một thành quả cách mạng nông nghiệp ở những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, trong đó Hoa Kỳ là một quốc gia đã tận dụng những thành quả nầy trong việc phát triển lương thực. Theo thống kê, hiện có 45 triệu mẫu (acres) đất nông nghiệp ở tại xứ nầy trồng những loại thưc phẩm có tên gọi là sinh công nghệ hay biotech, nghĩa là những loại cây trồng đã được chuyển đổi di truyền (transgenic) như đâu, bắp, khoai tây, lúa mì, cà chua, bông vải v.v…
Tứ đó, thực phẩm chúng ta tiêu dùng hàng ngày đa phần là loại thực phẩm được trồng tỉa bằng phương pháp chuyển đổi di truyền, trừ phi chúng ta dùng thực phẩm hữu cơ (organic food). Chúng ta không thể phân biệt được vì Cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) chưa ra quy định cần phải ghi trên nhãn hiệu là thực phẩm nguyên gốc thiên nhiên (organic) hay là thực phẩm chuyển đổi di truyền.
Làm thế nào để có được yếu tố chuyển đổi di truyền thích hợp cho cây trái?
Đây là một kỹ thuật di truyền đặc biệt đòi hỏi trí suy luận, trình độ kỹ thuật và chuyên môn thâm sâu. Xin đan cử một thí dụ về cây dâu (strawberries). Từ nhận định ban đầu về yếu điểm của cây dâu là khi thời tiết trở lạnh, hay có sương muối (frost), cả cây lẫn trái dâu sẽ bị úng và chết. Từ tiền đề trên, câu hỏi được đặt ra là làm thế nào tăng cường khả năng đề kháng chống lạnh của cây dâu ở nhiệt độ thấp? Và câu trả lời của các nhà khoa học di truyền căn cứ vào loài cá ở vùng nước lạnh có yếu tố di truyền chống được lạnh. Do đó, con người có thể cắt (cut) yếu tố di truyền của cá, và cấy (paste) vào yếu tố di truyền của cây dâu. Điều nấy cũng giống như chúng ta làm cut-paste trong máy điện toán, hay đi xa hơn nữa, thay đổi các bộ phận của cơ thể như tim, gan, thận của con người.
Từ những giai đoạn trên, nhà khoa học di truyền phải: 1- Nghiên cứu và xác định được yếu tố DNA chịu lạnh trong cá; 2- Làm thế nào để tách rời yếu tố nầy; 3- Làm thế nào chuyển tải yếu tố trên vào cây dâu; 4- Và sau cùng DNA tách rời từ cá được thêm vào hay lại phải thay thế một yếu tố DNA khác trong thân cây dâu.
Lý giải những câu hỏi trên, cũng như sau khi tìm ra những kết luận thỏa đáng đáp ứng được nhu cầu của trí tuệ và kiểm chứng qua thực nghiệm, nhà khoa học mới mang ra áp dụng vào thực tế. Từ đó, cây dâu mang yếu tố di truyền chống lạnh ra đời. Sau cùng, sau một thời gian thử nghiệm các nhà khoa học cũng cần phải cải tiến để cho sức chịu đựng của cây dâu được tối ưu và năng suất cũng tăng theo.
Đây là một quá trình đầu tư dài hạn từ suy nghĩ cho đến thành tựu thường kéo dài từ vài năm đến hàng chục năm thu hút rất nhiều nhà khoa học di truyền. Đôi khi kết quả cũng không được mỹ mãn nếu không nói là thất bại.
Tuy nhiên, dù thành công trên mặt kỹ thuật di truyền, vài vấn nạn lớn được đặt ra là sản phẩm được cấy yếu tố di truyền khác là một sản phẩm an toàn cho con ngưiời và súc vật hay không, cũng như ảnh hưởng của chúnglên hệ sinh thái như thế nào? Các nhà khoa học di truyền cần phải mất một thời gian dài khoảng hai thế hệ mới có thể có câu trả lời.
Ảnh hưởng lên môi trường
Câu trả lời hiện tại của các nhà khoa học và khoa học môi trường là hậu quả của các chủng giống cây trồng có mang yếu tố di truyến từ bên ngoài đều có ít hay nhiều ảnh hưởng tiêu cực lên môi trường sống chung quanh. Cây trồng cũng giống như vi khuẩn, có thể thay đổi di truyền (exchange genetic material) qua cung cách trao đổi phân bón tự nhiên (spontaneous cross-fertilization). Do đó, cây dầu canola đã được thêm yếu tố di truyền mới để tăng thêm sức đề kháng với hóa chất diệt cỏ dại đã, sau một thời gian trao dodiyếu tố di truyền tự nhiên qua cây cỏ dại. Từ đó, cây cỏ dại lại mang thêm tính đề kháng đối với hóa chất diệt cỏ dại trên. Và con người lại phải tìm ra hóa chất mới nếu muốn diệt được cỏ dại nầy.
Đó là một vòng lẩn quẩn và là quy luật của thiên nhiên và cũng là mặt tiêu cực trong việc áp dụng cây trái có mang yếu tố chuyển đổi di truyền. Điều nầy sẽ làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm hơn vì trò chơi hóa chất sẽ tái diễn không ngừng ảnh hương lên môi trường sống của con người. Nên nhớ, đại công ty Monsanto là một công ty sản xuất đủ loại thuốc sát trùng, diệt cỏ dại (trong đó có chất da cam!), diệt nấm mốc có tầm vóc thế giới; công ty nầy cũng là một công ty sản xuất thực phẩm lớn ở Hoa Kỳ.
Aûnh hưởng lên con người và thú vật
Con người và súc vật nuôi xử dụng thực phẩm có chứa yếu tố di truyền hàng ngày, hàng năm, hay cả đời! Các công ty sản xuất loại thực phẩm trên dĩ nhiên đã công bố nhiều báo cáo nghiên cứu về tính an toàn của sản phẩm. Ngay cả Cơ quan Thực phẩm và Dược Phẩm (FDA), cũng như Cơ quan Bảo Vệ Môi trường (EPA) cũng chỉ dám phỏng chừng (assume) rằng các loại thực phẩm trên an toàn, cũng như không đề ra định mức an toàn hay khuyến cáo con người cần đề phòng trong việc xử dụng thực phẩm trên.
Hiện tại, đây là một vấn đề rất nhạy cảm cả về phương diện kinh tế lẫn chính trị vì nó liên quan đến nhà sản xuất, chính sách nông nghiệp của quốc gia, cho nên mọi ý kiến ngược lại chiều hướng sản xuất thực phẩm có chứa yếu tố di truyền đều bị đè bẹp ngay từ đầu. Điển hình và vụ BS Pusztai. Bác sĩ đã bị Viện Nghiên cứu Rowett, trực thuộc chính phủ Hoa Kỳ sa thải vì đã công bố những kết luận không thuận lợi với chiều hướng trên trong khi nghiên cứu về chuột. Oâng đã làm thí nghiệm cho chuột ăn khoai tây có chứa mầm di truyền chống côn trùng; sau đó đã tìm thấy kết quả là chuột, sau một thời gian ăn khoai, gan bị suy thoái trầm trọng. BS Pusztai bị sa thải vì khoai tây chứa yếu tố di trueỳn nầy có thể tinh chế được GNA lectin, một loại hóa chất diệt côn trùng mạnh…
Mặc dù hiện tại chưa có cuộc nghiên cứu dài hạn nào về các ảnh hưởng lên sức khỏe của con người và súc vật; vì muốn làm như thế phải ít nhất khảo sát hàng hai thế hệ (60 năm). Do đó, con người chỉ dám nghĩ đến vấn đề nầy một cách tích cực mà thôi (wishfull thinking). Thí dụ: yếu tố di truyến làm tăng lượng sữa sản xuất hàng ngày của bò là rBGH (recombinant Bovine Growth Hormone) chỉ mới xuất hiện trong vòng năm năm vừa qua. Điều nầy hoàn toàn không được keỉm chứng về mức an toàn cho trẻ sơ sinh lẫn người lớn tuổi khi uống sữa nầy. Thêm nữa, bò sữa được cấy hormone như trên sẽ bị ảnh hưởng như thế nào? Vẫn chưa có câu trả lới thỏa đáng. Nhưng qua khám phá trên, kết quả thực tế là Hoa Kỳ có thêm một lượng sữa lớn dư thừa và chính phủ vẫn tiếp tục bao cấp (subsidize) cho người chăn nuôi qua tiền thuế của toàn thể dân chúng đóng góp!
Kết luận
Đối với người tiêu dùng, chúng ta phải hành xử như thế nào trước tình trạng thực phẩm hiện ạti tử thực phẩm tự nhiên nguyên thủy cho đến thực phẩm pha chế ngày càng chứa thêm nhiều yếu tố chuyển đổi di truyền với mục đích gia tăng mức sản xuất và lợi nhuận cho nhà chế biến.
Các nhà sản xuất dựa theo mức độ gia tăng dân số phi mã và diện tích nuôi trồng ngày càng bị thu hẹp để bào chữa và cổ súy cho việc cần phải tăng gia sản xuất lương thực qua các sản phẩm có chứa yếu tố di truyền để cung cp thực phẩm cho toàn thế giới.
Chúng ta, những người tiêu dùng, có lẽ chưa lưu tâm đúng mức tình trạng nầy. Nhất là người Việt Nam chúng ta, thường hay có thói quen không cần biết xuất xứ của sản phẩm đến từ đâu, và đã được chế biến như thế nào? Mà chỉ cần thỏa mãn khẩu vị và vừa hợp với túi tiền là đủ.
Xin thưa, ngày hôm nay, chúng ta cần phải lưu tâm nhiều hơn nữa, nhất là thực phẩm đến từ Việt Nam. Đây không phải là loại thực phẩm có chứa yếu tố chuyển đổi di truyền, mà là thực phẩm đã được trộn lẫn hay pha chế bằng những hóa chất độc hại, thậm chí có những hóa chất gây ra mầm ung thư nữa để làm thỏa mãn thị hiếu của ngừơi tiêu dùng cũng như đặc tính của sản phẩm đòi hỏi. Những sản phẩm nầy hiện đang được bày bán ở hầu hết các siêu thị Việt Nam lẫn Hoa Kỳ. Do đó, chúng ta cần nên hình dung mức nguy hại lên người Việt Nam ở hải ngoại và trong nước sẽ như thế nào, và chi phí y tế trong việc chửa trị các cơn bịnh ngặt nghèo sẽ xảy ra trong những thập niên tới đây sẽ gia tăng ra sao?
Tóm lại, với suy nghĩ chủ quan của người viết chúng ta cần phải cần thận trong việc ăn uống trước tình trạng thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam cũng như thực phẩm có chứa các yếu tố chuyển đổi di truyền không được kiểm soát nghiêm chỉnh. Do đó, cần phải có thái độ rõ ràng:
- Chọn sản phẩm organic, nghĩa là không phân bón, không thuốc trừ sâu rầy, trừ nấm mốc, diệt cỏ dại, và không có cấy DNA từ ngoài vào. Sản phẩm nầy dĩ nhiên đòi hỏi một chi phí cao, nhưng chắc chắn sẽ không có những ảnh hưởng tiêu cực trong tương lai so với việc dùng thực phẩm thông thường hiện tại;
- Tránh những loại sản phẩm được sản xuất hàng loạt và có bán với số lượng lớn ngoài thị trường. Phần đông các sản phẩm nầy được biến chế từ các kỹ thuật nuôi trồng theo cung cách chuyển đổi di truyền;
- Luôn luôn đề cao cảnh giác đối với bất cứ loại sản phẩm tiêu dùng nào và cần nên biết rõ nguồn gốc và xuất xứ của sản phẩm nhất là sản phẩm đến từ Việt Nam;
Mai Thanh Truyết
Orange 4/2007
Năm 1975, từ khi nước nhà hoàn toàn thống nhất, Việt Nam đã bắt đầu đặt kế hoạch phát triển trên toàn thể quốc gia. Từ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đến 5 năm lần thứ hai. Nhưng trong hai kế hoạch ngũ niên đầu tiên nầy, mọi cố gắng của Việt Nam đã đưa đất nước lâm vào tình trạng thực sự kiệt quệ và bế tắc. Sinh hoạt kinh tế hầu như thất bại hoàn toàn. Việt Nam gần như đứng bên lề vực thẳm.
Năm 1986, đứng trước hiễm họa diệt vong, chính sách phát triển của Việt Nam đã rẽ sang một bước ngoặc, Việt Nam bắt buộc phải mở cửa để chào gọi đầu tư ngoại quốc hầu cứu nguy nền kinh tế đang kiệt quệ. Từ đó, kinh tế Việt Nam lần lần đi lên từng bước một. Nông ngư nghiệp phát triển và nông dân bắt đầu tương đối có đủ lương thực và không còn ăn độn như những năm trước đó nữa.
Lợi tức đầu người từ 180 Mỹ kim (1980) tăng dần từ 7 đến 9% mỗi năm tiếp theo. Nhưng cho đến năm 1997, mức tăng trưởng khựng lại vào khoảng 4- 5% cho đến những năm sau 2000. Từ đó Việt Nam bắt đầu lại vươn lên và đạt được mức tăng trưởng trung bình hàng năm vào khoảng 7- 9% trong nhiều năm liền. Đến năm 2004, lợi tức đầu người lên đến 450 Mỹ kim, tuy nhiên vẫn còn cách xa so với mức tăng trưởng của Trung Quốc là 900 Mỹ kim ($200/người/năm trong năm 1980). Và vào năm 2006, lợi tức đầu người Việt Nam tăng lên khoảng $650:00; nhưng ngược lại, khoảng cách giàu-nghèo ngày càng lộ rõ, nhất là ở những vùng xa thành thị.
Bên cạnh việc phát triển và tăng trưởng kinh tế kể trên, Việt Nam lại phải đối mặt với một vấn nạn môi trường do phát triển ngày càng trầm trọng thêm ra. VaØ vấn nạn nầy là một thách thức lớn nhất của Việt Nam trong những ngày sắp đến.
Mục đích của bài viết là trình bày lần lượt hai yếu tố nổi bật ảnh hưởng đến môi trường qua 32 năm phát triển của Việt Nam. Đó là sự phá rừng và sự gia tăng dân số cùng những hệ lụy nảy sinh từ hai yếu tố trên.
Ảnh hưởng môi trường qua việc phá rừng
Trước chiến tranh thứ hai, diện tích rừng nguyên sinh của Việt Nam là 19 triệu mẫu chiếm 58% diện tích cả nước. Cho đến năm 1943 rừng chỉ còn lại 14,1 triệu mẫu (43%); và đến năm 1990 tình trạng càng tệ hại hơn nữa, diện tích rừng chỉ còn 9,1 triệu mẫu (27,7%). Theo báo cáo năm 2002 của Ngân hàng Thế giới (WB), kễ từ năm 1999 trở đi, hàng năm mức độ đốn rừng để xẻ gỗ được ước tính là 2 triệu m3. Ngoài ra còn phải kể đến việc cháy rừng vào mùa khô và việc chuyển đổi rừng trong việc nuôi tôm như vùng rừng tràm, đước ở Cà Mau.
Việt Nam cũng có chương trình trồng rừng sau khi nhận thức được nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường trong việc phá rừng bừa bãi. Do đó, “chương trình trồng rừng 327” đã được phát động từ năm 1994 đến nay. Chỉ tiêu cho đến năm 2010 là cố gắng trở lại mức bình thường vào thời điểm 1943, nghĩa là từ bây giờ cho đến cuối kế hoạch phải trồng thên 5 triệu mẫu rừng, chưa kể đến số diện tích rừng bị hủy diệt hàng ngày. Chi phí trồng rừng được ước tính là 1,1 triệu Mỹ kim/mẫu. Và Việt Nam nếu muốn đạt chỉ tiêu nầy thì hàng năm phải trồng thêm 1.000.000 mẫu rừng. Do đó tính khả thi của chương trình trồng rừng 327 khó có khả năng thực hiện được.
Về ĐBSCL, trong hiện tại chỉ còn 5% rừng che phủ và đã mất đi khoảng 175.000 mẫu rừng ngập mặn tính đến 2003. Rừng ngập mặn ở nơi nầy thể hiện nhiều lợi điểm sau đây: 1- chống lại sự xói mòn của biển, 2- hạn chế được sự nhiễm mặn vào sâu trong vùng đất liền, 3- và nhất là bảo vệ được đa dạng sinh học cho toàn vùng. Kỹ nghệ nuôi tôm đã đánh mất đi các lợi điểm nầy và hiện đang để lại một di hại không nhỏ cho toàn vùng hiện tại.
Về đất, hậu quả trước mắt ảnh hưởng từ việc phá rừng là sự thoái hóa của đất. Đất mất đi độ phì nhiêu và sự cân bằng dinh dưởng. Lớp đất thịt trên mặt sẽ bị cuốn trôi sau những cơn mưa lũ vì không còn cây và rễ để giữ đất lại. Điều nầy được tỏ rõ trong năm 2001, lần đầu tiên trong lịch sử nước sông Hương (Huế) đã biến thành đục và độ pH trở thành kiềm trong mùa khô.
Ngoài sự thoái hóa của đất do nguyên nhân trên, sau gần 20 năm mở cửa và phát triển ồ ạt trong nông nghiệp, Việt Nam mất đi 2 tỷ tấn đất/năm (nguyên nhân chính yếu là do việc phá rừng) hay tính trung bình đất bị xói mòn tùy theo vùng và đã thất thoát từ 50 – 3200 tấn/mẫu/năm ảnh hưởng đến 23 triệu mẫu trên toàn quốc, chiếm 70% diện tích quốc gia.
Về nước, theo báo cáo của Ban Chỉ đạo Quốc gia về Cung cấp Nước sạch và Vệ sinh môi trường năm 2003, nguồn nước ở Việt Nam ngày càng bị khan hiếm và ô nhiễm. Sự thoái hóa nầy tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng trưởng kinh tế, nhất là ở những năm gần đây. Nhu cầu nước cho nông nghiệp chiếm 88%, và cho kỹ nghệ chiếm 7%.
Các nguồn nước thải từ khu gia cư, từ các trung tâm kỹ nghệ, khu chế xuất, đất nông nghiệp v.v...đã xâm nhập vào nguồn nước mặt, nước ngầm, thậm chí ảnh hưởng đến phẩm chất nước ở vùng duyên hải nữa. Nước sinh hoạt gia cư, nước thải kỹ nghệ, và nước rỉ từ các bãi rác là nguyên nhân chính yếu cho việc ô nhiễm hữu cơ trong nguồn nước mặt đặc biệt ở các thành phố lớn như TpHCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẳng, Cần Thơ v.v... căn cứ theo báo cáo trên.
Về vùng duyên hải, trong vòng 3 thập niên trở lại đây, hơn 96% san hô của Việt Nam đều bị ảnh hưởng do tác động của con người như đánh bắt cá bằng thuốc nổ, bằng hóa chất độc hại như cyanur, hoặc bị nhiễm độc do phế thải, đặc biệt ở vịnh Hạ Long, Cát Bà (Hải Phòng), Ninh Thuận, Bình Thuận, và Khánh Hòa. Theo một nghiên cứu thăm dò từ năm 1994 đến 1997 tại 142 địa điểm san hô dọc theo bờ biển Việt Nam, kết luận của bảng thăm dò cho thấy chỉ còn độ 1% tổng lượng san hô chưa bị ô nhiễm xâm nhập mà thôi. Riêng tại khu vực duyên hải miền Bắc, theo ước tính của Hải học Viện Nha Trang thì trong vòng 20 năm trở lại đây, công nghệ khai thác than Quảng Ninh và các vùng phụ cận đã hủy diệt trên 50% lượng san hô ở vùng biển nầy.
Ảnh hưởng do sự gia tăng dân số
Với diện tích 325.000 Km2 trong đất liền và 336.000 Km2 nếu tính luôn các hải đão, Việt Nam phải đối mặt với sự gia tăng dân số trầm trọng từ 44 triệu vào năm 1975 lên đến trên 84 triệu năm 2006. Mật độ trên 1 Km2 tăng từ 135 người đến 252 người. Toàn thể Việt Nam hiện tại có khoảng 12 triệu mẫu đất canh tác cho trồng trọt và chăn nuôi. Chính sự gia tăng dân số quá nhanh ngay sau khi chiến tranh vừa chấm dứt là một trong những nguyên nhân chính cho việc phá rừng. Cùng với mức gia tăng trên, và do nhu cầu sinh tồn, con người đã làm cho môi trường ngày càng xuống cấp nhanh hơn qua việc đốt rừng làm rẫy, độc canh trên đất dốc, đồi núi mà không có biện pháp chống xói mòn. Về trồng trọt, vì không được hướng dẫn cho nên việc luân canh không có kỹ thuật, không hợp lý cũng như không có kế hoạch, nhất là các loại cây công nghệ như: mía, khoai mì, khóm, lúa, đậu v.v...
Thêm nữa, cũng vì mức gia tăng dân số cho nên đất đã bị xử dụng liên tục, không có thời gian nghĩ ngơi để lấy lại sự cân bằng thiên nhiên. Cũng như vì nhu cầu tưới tiêu, cho nên nông dân không ngần ngại xử dụng nguồn nước thiếu phẩm chất như nước phèn, nước lợ....và hậu quả tất nhiên của việc làm nầy là mức độ nhiễm mặn, nhiễm phèn lấn sâu vào lục địa và đất đang có nguy cơ trở thành sa mạc hóa trong tương lai, và không thể phục hoạt được.
Việc di dân từ các vùng cao miền Bắc vào cao nguyên Trung phần không có kế hoạch rõ rết cũng như không có nguồn trợ lực về tài chính và kỹ thuật cho di dân lúc ban đầu càng làm cho nông dân gián tiếp tăng thêm mức độ suy thoái của đất trong chăn nuôi và trồng trọt cũng như mức độ ô nhiễm qua việc xử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi làm cho tiến trình hủy hoại môi trường càng nhanh hơn.
Thay lời kết
Báo cáo “Hiện trạng môi trường Việt Nam 2000” soạn thảo do Chương trình Môi trường LHQ và Trung tâm Tài nguyên Khu vực Á châu Thái Bình Dương (UNEP-RRCAP) có nêu lên ngay trong phần khai mào, có nhận định như sau:”Nói chung, cho đến nay (2000) chưa nảy sinh các vấn đề môi trường đối với các khu công nghiệp (KCN) mới”.
Hiện nay trên cả nước có tất cả 69 KCN hoặc KCX (200), có KCN nào có hệ thống xử lý nước thải, xử lý phế thải rắn, và xử lý nguồn phát thải vào không khí? Hay là, các phế thải lỏng đi vào cống rãnh và chảy thẳng vào kinh rạch rồi đổ ra sông. Còn phế thải rắn sẽ đi vào các bãi rác lộ thiên mà không qua công đoạn xử lý. Và tại những nơi có KCN đang hoạt động, không khí bị ô nhiễm hạt bụi và thậm chí có những khí độc thoát ra như khí clor, khí sulfurơ (SO2), hơi chì, benzen, và thủy ngân v.v...Báo cáo trên ghi nhận “chưa nảy sinh ra vấn đề môi trường”, thử hỏi những vấn nạn môi trường vừa nêu trên chưa phải là vấn đề môi trường hay sao?
Trong “Chiến lược Bảo vệ Môi trường Quốc gia 2001 – 2010” do Bộ Khoa học, Công nghệ & Môi trường thực hiện đã được nghiên cứu trong nhiều năm, được sự tham gia đóng góp ý kiến của nhiều nhà quản lý, nghiên cứu của hầu hết Bộ/Ngành ở trung ương và nhiều Ban/Ngành ở các địa phương. Nhiều nhà tài trợ và chuyên gia nước ngoài cũng đã tham gia tư vấn và hoàn thành chiến lược nầy... Và Chiến lược đã rút ra 9 giải pháp để thực hiện việc bảo vệ môi trường Việt Nam trong tương lai nhu sau:
1- Tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức về môi trường;
2- Tăng cường vai trò của cộng đồng, doanh nghiệp, tư nhân trong bảo vệ môi trường;
3- Tăng cường và đa dạng hóa đầu tư bảo vệ môi trường;
4- Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về môi trường;
5- Mở rộng hợp tác quốc tế và thu hút sự tài trợ của quốc tế;
6- Kết hợp chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia với chiến lược phát triển kinh tế xã hội;
7- Lựa chọn hành động ưu tiên;
8- Giám sát và đánh giá việc thực hiện chiến lược;
9- Trách nhiệm và các cơ quan thực hiện;
Tính đến nay, kế hoạch thực hiện chiến lược môi trường đang đi vào hơn giữa giai đoạn (2005), theo sự quan sát của nhiều chuyên gia nội địa và hải ngoại, 9 giải pháp đề ra vẫn chưa được thực hiện đúng mức vì chỉ là những giải pháp tô vẽ trên giấy tờ và không được khai triển ra từng kế hoạch chi tiết để có thể phối hợp hành động. Ngay cả phạm vi quản lý của nhà nước là ưu tiên hàng đầu mà luật lệ và việc phân công, phân nhiệm còn trồng tréo nhau, gây thêm khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất.
Luật Môi trường đã được cải sữa lần thứ 17 (2004) mà vẫn còn quá nhiều kẽ hở tạo điều kiện thuận lợi thêm cho những móc ngoặc và tham nhũng, cũng như nhà nước phải chịu nhiều thất thu qua các tệ trạng kể trên. Một điều căn bản chính yếu trong luật môi trường là quy định các nhà sản xuất công, kỹ nghệ phái thiết lập “báo cáo” tác động môi trường” (EIA) trước khi dự án được chấp thuận và cấp giấy phép. Nhưng cho đến nay, có gần 700.000 cơ sở công nghiệp lớn nhỏ trên toàn quốc đang hoạt động, vẫn chưa có nơi nào nộp bảng nghiên cứu tác động môi trường theo đúng quy định của luật.
Nhìn lại 32 năm quản lý môi trường 1975 – 2007 của một quốc gia Việt Nam thống nhất, đất nước đã được gồm thu vào một mối, công cuộc điều hành quốc gia được tóm gọn vào một chiều hướng duy nhất: Phát triển quốc gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Dù cố gắng tối đa để có một nhận xét tích cực, nhưng quả thật, Đất Nước Việt Nam đang đi dần đến bế tắc, nhất là 20 năm sau khi có kế hoạch mở cửa từ năm 1986.
Phát triển Việt Nam trong nông nghiệp và chăn nuôi để phục vụ cho nhu cầu xuất cảng để có một số ngoại tệ nặng, nhưng cán cân chi thu vẫn làm cho Việt Nam càng thiếu hụt thêm ra theo thời gian mặc dù có rất nhiều nguồn vốn đầu tư do ngoại quốc đổ vào. Việc xuất cảng hàng năm trung bình 5 triệu tấn gaọ, thu nhập vào khoảng trên 1 tỷ Mỹ kim, liệu có cân bằng được việc nhập cảng 9,5 tấn phân bón, cùng hàng trăm ngàn tấn hóa chất bảo vệ thực vật để có được lượng gạo xuất cảng trên hay không? Hay đó chỉ là một chính sách quản lý bao tử của người dân bằng cách bảo đảm một mức sống tối thiểu cho hàng chục triệu nông dân trên cả nước?
Việc xuất cảng hàng năm 900 triệu Mỹ kim qua việc xẻ gỗ đã để lại quá nhiều vấn nạn môi trường cho sự thất thoát rừng và những hệ lụy đã được phân tích ở phần trên, và mức thu nhập nầy có thể khỏa lấp được những mất mát do vấn nạn trên hay không? Hay nguồn tài nguyên căn bản của đất nước đang bị hao mòn dần?
Theo một báo cáo mới nhất về Chỉ số Môi trường Bền vững 2006 (2006 Environmental Sustainability Index) do Diễn đàn kinh tế nhóm họp tại Davos (Thụy Sĩ) vào tháng 3, 2007, Việt Nam đã đứng cuối bảng trong các quốc gia ASEAN. Đó là Plilippine đứng đầu với 69,4 điểm, Thái Lan với 66,8 điểm, Indonesia với 60,7, Miến Điện với 57,0, và Việt Nam đứng sau với 54,2 điểm (Trung Quốc chiếm 58,2 điểm). Chỉ số trên đo đạc do nhóm giáo sư ở Đại học Yale và Columbia (Hoa Kỳ) thực hiện, căn cứ vào 21 chỉ số môi trường như sau: khí thải nhà kính, phẩm chất nước, không khí, đất, sức khỏe môi trường, trình độ khoa học và công nghệ, khả năng quản lý tài nguyên, khả năng giải quyết áp lục môi trường v.v... So với 133 quốc gia nằm trong cuộc khào sát trên thế giới, Việt Nam được xếp vào hạng 99, tụt xuống một hạng so với năm 2005.
Tóm lại, mọi kế hoạch, định hướng, chiến lược đã được Việt Nam đề xướng từ 30 năm qua đã không được thi hành nghiêm chỉnh và đúng đắn, cũng như việc phát triển quốc gia hoàn toàn không đồng bộ với việc bảo vệ môi trường. Do đo,ù hệ quả đương nhiên là tình trạng môi trường ngày càng xuống cấp tệ hại và cho đến nay, mọi biện pháp cứu chữa hầu như không thể thực hiện được.
Tuy nhiên, vào tháng 10,2003, trong một cuộc họp báo của Thủ tướng Việt Nam thời bấy giới là Phan Văn Khải có tuyên bố rằng: “Phát triển kinh tế và xã hội theo định hướng công nghiệp hóa”. Có thể đây là một chỉ dấu mơíù của chính sách kinh tế của Việt Nam hay không? Hay là chuổi từ “định hướng xã hội chủ nghĩa” theo sau chiến lược phát triển kinh tế cho đến nay có thể đã được lãnh đạo Việt Nam nhìn nhận là đã thất bại và cần phải chuyển hướng tư duy?
Nhưng cho đến hôm nay, định hướng công nghiệp hóa chỉ là một chỉ đạo trêm lý thuyết. Nhưng trên thực tế, sự phát triển công nghiệp của Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào nguồn vốn IDA với kế hoạch dựa theo khuynh hướng đầu tư theo sự chủ động của ngoại quốc mà không tuân thủ theo một kế hoạch phát triển toàn bộ thích ứng với điều kiện Việt Nam cùng cân bằng với việc bảo vệ môi trường.
Tóm lại, phát triển quốc gia không đi kèm với việc quản lý và kiểm soát môi trường sẽ đưa đất nước đến tình trạng kiệt quệ về tài nguyên và môi trường bị thoái hóa. Phát triển quốc gia không đi kèm với dân chủ hóa và nhân quyền hóa xã hội sẽ đưa đất nước đến kề cận với thảm họa diệt vong. Vì, một khi cánh cửa dân chủ chưa mở được thì tất cả tài nguyên, tài sản quốc gia sẽ tích lũy trong tay của một nhóm thiểu số cầm quyền; do đó, phúc lợi nầy sẽ không được chia xẻ đồng đều và công bằng theo nhu cầu của xã hội. Và đây, cũng là bế tắc chính yếu cần phải tháo gở của Việt Nam do công cuộc điều hành Đất và Nước không ứng hợp với chiều hướng phát triển bền vững từ 32 năm qua.
Mai Thanh Truyết
Hội Khoa học&Kỹ thuật Việt Nam (VASTS)
Orange 30/3/2007
Bước vào thế kỷ 21, việc xử dụng đa dạng năng lượng (energy diversity) trong chuyển vận là một trong những suy nghĩ lớn cho công nghệ năng lượng trong tương lai. Đây là một tiềm năng để cho tất cả những nghiên cứu hiện tại chú tâm vào như khả năng truy tìm nguồn nguyên liệu thay thế xăng dầu trong vận chuyển như hơi đốt, rượu ethanol, điện, hydrogen, hay một hay nhiều hổn hợp của các loại năng lượng vừa kể trên.
Vào ngày 8/1/007, Cty H2Gen Innovations, Inc. công bố là đã hoàn tất việc chuyển giao hệ thống sản xuất HGM 2000 Hydrogen đến Cty Chevron Hydrogen Co. ở Florida. Hệ thống nầy sẽ là một thí điểm đầu tiên, đã được thực hiện vào cuối tháng giêng vừa qua. Đó là việc xử dụng xe buýt chạy bằng nhiên liệu hydrogen ở phi trường Orlando. Đây là một chương trình tài trợ bởi Cơ quan Bảo vệ Môi trường Florida. Máy HGM 2000 Hydrogen có khả năng sản xuất 115 Kg hydrogen nguyên chất (99,999% tinh khiết) đủ cung ứng cho 8 chiếc xe buýt lớn chạy suốt ngày trong phi trường.
Trong buổi lễ chuyển giao. TGĐ của H2Gen tuyên bố: “Đây là một bước quan trọng cho chúng ta. Hệ thống HGM 2000 rất dễ di chuyển, dễ lấp đặt, cũng như vận hành trong việc chuyển tải nhiên liệu hydrogen vào xe”. Hệ thống nầy dựa theo nguyên tắc chuyển đổi khí thiên nhiên và nước thành hydrogen; do đó, sự an toàn tuyệt đối được bảo đảm trong khi di chuyển.
Thành quả nầy cho thấy Hoa Kỳ và các quốc gia phát triển trên thế giới đã bắt đầu xử dụng hydrogen như là một nhiên liệu thay thế dầu. Và việc chuyển đổi nầy kích thích công nghệ xe hơi trong việc nghiên cứu để thích ứng với tình thế mới là dùng nhiên liệu thay thế như hydrogen. Đây cũng là một bước ngoặc trong việc hạn chế khí thải CO2.
Nguồn sản xuất hydrogen
Các nguyên liệu và phươngpháp sau đây hiện đang được nghiên cứu và ứng dụng để sản xuất hydrogen. Đó là khí đốt thiên nhiên, than đá, nguồn năng lượng hạch nhân, phương pháp điện giải, năng lượng gió, năng lượng sinh khối (biomass), và năng lượng mặt trời.
Hydrogen từ khí đốt thiên nhiên: Điều chế hydrogen từ các nguồn nguyên liệu thiên nhiên như khí đốt được thực hiện dễ dàng nhất, và không cần phải sản xuất một nguồn nguyên liệu trung gian khác. Lợi điểm thứ hai, là phương pháp nầy đưa đến một công nghệ không phức tạp và có tỷ lệ hydrogen-carbon cao; do đó, hạn chế được tối đa lượng khí carbonic phát thải vào không khí.
Phươngpháp nầy thích hợp với những quốc gia có nguồn dự trử khí đốt lớn như LB Nga, nhưng lại khó thích hợp cho Hoa Kỳ và Tây Aâu, vì cần phải nhập cảng nguyên liệu khí đốt.
Nguyên lý chuyển đổi từ khí đốt methane CH4 ra hydrogen gồm các phương cách sau đây: 1- phản ứng chuyển hóa hơi methane và oxid hóa từng phần; 2- Hoặc kết hợp chung hai giai đoạn với nhau. Nhưng trên thực tế hổn hợp khí vẫn còn chứa carbon monoxide (CO), carbon dioxide (CO2) và một phần nhỏ khí methane còn sót lại.
Do đó cần phải qua một quy trình chuyển hóa thứ hai với hơi nước dưới những hóa chất xúc tác với nhau để tạo ra hydrogen như sau:
CO + H20(hơi) -> CO2 + H2
CH4 + 2H20(hơi) -> CO2 + 4H2
Và sau cùng khi tinh chế lại, quy trình sản xuất sẽ cho ra hydrogen có độ tinh khiết rất cao.
Phương pháp chuyển đổi khí đốt ra hydrogen trong giai đoạn chuyển tiếp hiện tại có thể là một giải pháp có hiệu quả kinh tế cao nhất vì nguồn vốn đầu tư và sản xuất tương đối thấp so với các phương pháp khác.
Đặc điểm của phương pháp nầy là dễ thực hiện và khi sản xuất ở quy mô lớn sẽ làm giảm giá thành. Đặc điểm thứ hai, là ở các hệ thống phân phối, ở các điểm bán lẽ không cần nhân viên có trình độ cao để chuyển khí hydrogen từ hệ thống phân phối qua tế bào tiếp nhận của xe.
Theo ước tính, một hệ thống sản xuất 480 Kg hydrogen/ngày sẽ giảm từ 3.847 $/Kg/ngày còn 2.000 $/kg/ngày và giá hydrogen sẽ giảm xuống từ 3,51 còn 2,33 Mỹ kim/Kg. Phương pháp nầy có thể áp dụng với quy mô kỹ nghệ vào năm 2011.
Hydrogen từ than đá: Phương pháp nầy được áp dụng ở các nhà máy nhiệt điện dùng than và quy trình tổng hợp hóa khí trong than (IGCC). Đây là một phương pháp sạch biến than thành năng lượng đang ngày càng phát triển ở Hoa kỳ. Do đó, việc phối hợp vừa sản xuất điện và khí hydrogen trong các nhà máy phát điện dùng than sẽ giảm giá thành của hydrogen và phương pháp nầy có hiệu quả kinh tế rất cao. Đây là một phương pháp biến than thành khí (gasification) dựa theo nguyên lý oxid hóa than đá với hơi nước ở nhiệt độ và áp xuất cao. Trong điều kiện trên, năng lượng được thành hình để có thể biến thành điện năng và khí hydrogen theo như chuổi phản ứng vừa đan cử ở phần trên.
Thêm nữa, với phương pháp trên, sản lượng hydrogen có được rất cao, có khả năng cung ứng nhiên liệu cho nhiều hệ thống phân phối trong một vùng rộng lớn. Vã lại, trữ lượng than đá của HK còn đủ cung ứng cho nhu cầu trong vòng 250 năm nữa; như vậy sẽ không có biến động về giá cả như việc dùng khí đốt mà Hoa Kỳ cần phải nhập cảng. Tuy nhiên có một điểm bất lợi lớn cho phương pháp nầy là lượng khí CO2 thải hồi rất lớn, lớn hơn tất cả phương pháp hiện nay để sản xuất hydrogen. Do đó, cần phải có hệ thống thu hồi khí carbonic bằng cách áp dụng kỹ thuật chuyển hóa carbon (sequestration).
Với phương pháp nầy, giá thành của H2 được ước tính khoảng $1,03/Kg. Trong tương lai, nếu áp dụng các phương pháp hoàn chỉnh hơn như thiết lập các ló phản ứng hóa khí lớn, và tăng hiệu năng việc tách rời cũng như tinh chế H2, giá thành có thể giảm xuống còn $0,90/Kg. Phương pháp nầy dự trù đem vào áp dụng tại HK vào năm 2015.
Hydrogen từ năng lượng hạch nhân: Sản xuất H2 từ nguồn năng lượng nầy có hai điểm lợi: 1- Nguồn nguyên liệu chính là uranium có trữ lượng lớn ở HK, Canada, và Úc Châu. Do đó đây là một nguồn nguyên liệu ổn định và an toàn; 2- Nguồn năng lượng hạch nhân không tạo ra khí carbonic vào bầu khí quyển cũng như các khí thải độc hại khác.
Quá trình sản xuất H2 trong các ló phản ứng hạch nhân có thể được lý giải như sau: hơi nước được điện giải trong phản ứng nhiệt hóa (HTES) từ khoảng 700 đến 1.0000C để cho ra H2. Phản ứng nầy chiếm ưu thế hơn ví không cần sự hiện diện của các chất xúc tác và cho hiệu suất cao hơn phản ứng nhiệt hóa.
Tuy nhiên, vì cùng sản xuất đồng loạt địên năng và hydrogen, cho nên cần có sự hiện diện của hai lò phản ứng ở trong cùng một phạm vi sản xuất. Điều nầy đòi hỏi mức an toàn vận hành rất cao. Mọi sơ suất có thể biền thành một tai nạn thảm khốc cho cư dân trong vùng.
Hydrogen từ phương pháp điện giải: Phương pháp điện giải nước để có được hydrogen và oxygen đã được phát minh vào cuối thế kỷ 18. Phương pháp nầy không cho hiệu quả kinh tế cao so với các phương pháp trên. Nhưng hiện tại, cách nầy có thể dự phần không nhỏ trong giai đoạn chuyển tiếp dùng năng lượng hydrogen, ví dễ dự trử và hệ thống điện giải có thể được thiếp lập ngay tại các tạm bán xăng dầu. H2 sẽ được chứa trong những bình chứa đặc biệt sẵn sàng được bơm thẳng vào bình nhiên liệu của xe.
Giá thành được ước tính là $2,50/Kg cho hệ thống điện giải nhỏ và $2,0/Kg cho các hệ thống lớn. Trong tương lai, giá có thể giảm hơn nữa do việc làm tăng hiệu năng điện giải từ 63 lên 75% qua sự kiện làm giảm nguồn năng lượng làm nóng hơi nước, và có thể đem áp dụng vào năm 2010.
Hydrogen từ năng lượng gió: Việc sản xuất hydrogen từ các nguồn năng lượng tái tạo vẫn còn là một đề tài nóng bỏng hiện tại, vì đây là mục tiêu dài hạn cho tương lai. Do đó, năng lượng gió chuyển đổi thành điện năng; và sau cùng, dùng điện năng nầy để phân giải nước thàng hydrogen.
Vấn đề được đặt ra ở đây là làm thế nào để có hiệu năng tối đa, vì vậy:
- Cần phải nghiên cứu công nghệ turbine gió và chuyển hóa thành điện năng để có được giá thành thấp so với hiện tại;
- Giảm giá thành của công nghệ phân giải nước;
- Và sau cùng phối hợp hợp lý hệ thống turbine gió, hệ thống phân giải, cùng hệ thống bình chứa hydrogen.
Một khi thực hiện được ba điều trên, nguồn năng lượng gió sẽ là nguồn năng lượng tái tạo hiệu quả nhất cho việc cho việc chuyển đổi thành điện năng và hydrogen cho thế kỷ 21 nầy. Hiện tại (2007) giá thành của nguồn điện năng từ năng lượng gió đã giảm tùy theo vùng từ 5 đến 7 xu/kwgiờ, không tính tới tiền trợ cấp khuyến khích của chính phủ liên bang HK. Nếu công nghệ gió có khả năng làm tăng hiệu năng chuyển đổi, giá thành sẽ càng giảm hơn nữa (hiện tại, khả năng chuyển đổi nầy là 30%).
Yếu tố môi trường cũng là một lợi thế cho việc ứng dụng năng lượng gió vào việc sản xuất hydrogen, vì nguồn năng lượng nầy hoàn toàn không phát thải khí carbon monoxide (CO), khí carbon dioxide (CO2), nitrogen oxide (N0x), sulfur dioxide (SO2), và những hóa chất hữu cơ nhẹ và kim loại độc hại như trong kỹ nghệ điện từ than đá hay dầu hỏa.
Với phương pháp nầy, giá thành của hydrogen được ước tính là $6,64/Kg nếu hệ thống gió – phân giải – hydrogen được hoàn chỉnh với hiệu suất tồi đa, giá thành có thể giảm xuống còn $2,86/Kg Hydrogen.
Thay lời kết
Năng lượng gió hiện đang có lợi thế trong việc sản xuất nguồn năng lượng hydrogen và có khả năng biến nguồn năng lượng nầy có hiệu quả kinh tế cao. Do đó, đây sẽ là nguồn năng lượng trong tương lai, giảm thiểu sự phát thải khí carbonic, tác nhân chính của sự hâm nóng toàn cầu, và giảm thiểu lượng hydrocarbon trong dầu khí dùng cho việc di chuyển và sản xuất ra điện năng tiêu dùng.
Qua thời gian, công nghệ gió có những bước tiến đáng kể trong việc thu hồi toàn bộ sức gió để làm tăng vận tốc quay của những cánh quạt, cùng hệ thống dự trữ điện nănghòan chỉnh sẽ là hai yếu tố quyết định.
Tuy nhiên, chúng ta cần phải lưu ý đến yếu tồ an toàn trong việc xử dụng hydrogen trong kỹ nghệ vận chuyển. Hydrogen là một khí nhẹ nhất, rất dễ bị rò rỉ trong các hệ thống dây nối trong xe. Theo KS Rudolph Pick, chuyên gia về hydrogen ở Florida, chỉ cần một sự rò rỉ nhỏ cũng có thể gây ra tai nạn chết người do hydrogen sẽ phát nổ khi thoát ra ngoài không khí.
Do đó, một khi có tai nạn do xe chạy bằng nhiên liệu hydrogen, thảm nạn sẽ xảy ra tức khắc. Và đây là một bất lợi lớn nhất cần phải khắc phục trong tương lai, trước khi đem công nghệ nầy vào áp dụng.
Mai Thanh Truyết
West Covina,3/2007
Ngoài năng lượng mặt trời, năng lượng gió là một năng lượng thiên nhiên mà loài người đang chú trọng đến cho nhu cầu năng lượng trên thế giới trong tương lai. Hiện nay, năng lượng gió đã mang đến nhiều hứa hẹn. Tuy nhiên nếu muốn đẩy mạnh nguồn năng lượng nầy trong tương lai, thế giới cần phải hoàn chỉnh thêm công nghệ nầy cũng như làm thế nào để đạt được năng suất chuyển gió thành điện năng cao để từ đó có thể hạ giá thành và đi sâu vào thị trường cạnh tranh với những nguồn năng lượng khác.
Từ 5000 năm trước Thiên chúa (TC), loài người đã biết vận dụng gió để làm lực đẩy các tàu trên sông Nile ở Ai Cập. Vào khoảng 200 trước TC, người Trung Hoa đã biết dùng cánh quạt gió để dẫn thủy nhập điền. Trong lúc đó người Ba Tư và các dân tộc vùng Trung Đông dùng quạt gió có trục đứng để xay lúa mì và các loại hạt.
Vào thế kỷ 11, người Hòa Lan bắt đầu dùng quạt gió để rút nước từ các hồ vì đất ở đây thấp hơn mặt biển. Vào cuối thế kỷ 19, khi những người mới nhập cư đến New York, họ đã biết dùng cánh quạt gió để bơm nước vào nông trại và ngay sau đó có thể biến gió thành điện cho kỹ nghệ và nhà ở.
Và sau cùng, ở thời điểm 1930, Hoa Kỳ đã có những chương trình biến gió thành điện năng cho những vùng nông thôn xa thành phố. Vào năm 1940, tại Vermont Hill (Hoa Kỳ), một turbine lớn nhất thời bấy giờ có khả năng sản xuất 1,25 MW với vận tốc gió là 30 dậm/giờ.
Trong thế kỷ 20, năng lượng gió đã trãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm tùy theo tình hình thế giới cũng như nguồn cung cấp dầu hỏa hay than đá. Ngay sau khi đệ nhị thế chiến chấm dứt, giá dầu hỏa sụt giảm mạnh do đó công nghệ gió hầu như bị ngưng trệ hoàn toàn. Nhưng khi nạn khủng hoảng dầu hỏa vào thập niên 70, các turbine gió được chú ý đến và công nghệ nghiên cứu và phát triển nguồn điện năng nầy lớn mạnh ngay sau đó. Và cho đến hôm nay, công nghệ gió đã tiến đến mức độ là giá thành của loại điện năng nầy tương đương với giá thành của các nguồn điện năng khác như than đá, khí đốt. Và đây cũng là nguồn hy vọng của thế giới trong tương lai trước vấn nạn hâm nóng toàn cầu và nguồn nguyên liệu dầu khí đang tên đà cạn kiệt.
Thuận lợi của nguồn năng lượng gió
Nguồn năng lượng nầy đã cho thấy nhiều điểm thuận lợi. Đó là lý do chính khiến cho sự phát triển tăng nhanh trên thế giới trong những thập niên gần đây.
Năng lượng gió dựa trên nguyên lý là gió tạo ra sức quây các turbine và sẽ tạo ra điện năng. Nguồn năng lượng nầy tương tự như năng lượng mặt trời, vì gió là nguyên nhân của sự hâm nóng bầu khí quyển quanh mặt trời, do sự chuyển vận của trái đất, và do mặt đất lồi lõm. Ba yếu tố trên là ba nguyên nhân chính tạo thành gió. Hiện tại, giá thành của nguồn điện năng nầy giao động từ 4 đến 6 xu/KW/giờ tùy theo nguồn gió của từng địa phương. Các thuận lợi khi xử dụng nguồn điện năng nầy là:
- Giúp làm tăng trưởng kinh tế: Các hảng xưởng sản xuất turbine gió tăng trưởng sẽ tạo thêm việc làm khắp nơi. Theo ước tính của Hoa Kỳ, kỹ nghệ nầy sẽ tăng 20 ngàn công việc và tăng thêm lợi tức quốc gia là 1,2 tỷ Mỹ kim cho HK.
- Nguồn nguyên liệu vô tận: Chỉ cần áp đặt 6% trên những vùng có nhiều gió ở HK cũng có thể cung cấp 150% điện năng của HK hiện tại căn cứ theo ước tính của Bộ Năng lượng HK.
- Giá thành thấp: Cũng theo ước tính của Bộ Năng lượng HK, vào năm 2010 giá điện từ năng lượng gió sẽ rẻ hơn bất cứ giá điện từ các nguồn khác như than, dầu, hay biomass...
- Làm sạch không khí, giảm thiểu hiệu ứng nhà kính: Điện năng từ gió giúp làm giảm ô nhiễm không khí so với các nguồn điện năng khác. Chúng không phóng thích khí carbonic, hay các khí độc như carbon monoxide ảnh hưởng lên môi trường và sức khỏe người dân.
Bất thuận lợi
Tuy nhiên, điểm bất thuận lợi chính yếu của nguồn năng lượng nầy là tùy thuộc vào thiên nhiên. Dù công nghệ gió đang phát triển cao, và giá thành của một turbine gió giảm dần từ hơn 10 năm qua, mức đầu tư ban đầu cho nguồn năng lượng nầy vẫn còn cao hơn mức đầu tư các nguồn năng lượng cổ điển.
Gió đến từ thiên nhiên cho nên gió không đáp ứng trọn vẹn được những nhu cầu cần thiết của con người vì con người không thể kiểm soát được nguồn gió và nguồn điện năng nầy không thể giữ lại được nguồn điện dư thừa trừ khi chuyển điện qua các bình điện dự trử rất tốn kém và không hiệu quả kinh tế.
Nguồn gió nhiều và điều đặn thường ở khu vực xa thành phố, do đó ngoài việc xử dụng tại chỗ, điện năng từ gió khó được chuyển về các khu đông dân cư. Do đó, trước khi có những biện pháp nhằm giải quyết các thuận lợi trên, năng lượng từ gió có thể xem như một nguồn năng lượng dự phòng ngoài các nguồn năng lượng chính yếu khác.
Dĩ nhiên không có một nguồn năng lượng nào mà không ảnh hưởng lên môi trường. Trong trường hợp năng lượng gió, ảnh hưởng cần phải lưu tâm là các turbine gió gây ra tiếng động làm đão lộn các luồng sóng trong không khí có thể làm xáo trộn hệ sinh thái của các loài chim hoang dã và làm nhiễu xạ trở ngại chính cho việc phát tuyến trong truyền thanh và truyền hình (Các bất thuận lợi nầy đã được giải quyết bằng kỹ thuật làm cánh quạt mới to và cao hơn hiện tại, do đó quạt sẽ quây chậm hơn, không làm đão lộn phương hướng di chuyển của chim muông và giảm thiểu sự biến đổi của hệ sinh thái chung quanh). Tuy nhiên, những bất lợi nầy không thể phản bác lại một lợi điểm quan trọng trong việc sản xuất nguồn năng lượng nầy là giảm thiểu được lượng khí CO2 phóng thích vào không khí, nguyên tố chính của sự hâm nóng toàn cầu.
Mức xử dụng năng lượng gió trên thế giới
Trên thế giới trung bình mức sản xuất năng lượng từ gió tăng gấp đôi trong mỗi 3 năm; nhưng trong vòng ba năm vừa qua, mức tăng trưởng càng tăng nhanh hơn nữa. Lý do là giá dầu thô ngày càng tăng và không có chỉ dấu chậm việc tăng giá lại trong tương lai. Theo thống kê, cho đến năm 2000, các quốc gia trên thế giới đã sản xuất 17.500 MW tương đương với lượng điện năng tiêu thụ trong một năm của quốc gia Chí Lợi. Đan Mạch với 2.000MW hàng năm, tượng đương với 12% mức tiêu thụ toàn quốc của quốc gia nầy.
Về giá thành, năng lượng gió có thể so sánh với các loại năng lượng đến từ các máy phát nhiệt điện. Gần đây nhất, với sự tiến bộ của công nghệ gió, hiệu năng biến thành điện năng tăng cao, do đó giá thành ngày càng giảm dần. Trung bình giá thành để xây dựng một hệ thống điện từ gió là $1.000/KW điện trong đất liền, và ngoài đại dương là $1.600/KW. Giá thành còn tùy thuộc vào sức gió của mỗi vùng. Để có một khái niệm về giá thành của các lọai năng lượng so với năng lượng gió ở các vùng thưa dân cư xa thành phố là: $0,48/KW/giờ cho năng lượng gió, và $0,80 KW/giờ cho nguồn năng lượng đến từ dầu diesel (giá thành ở HK năm 2006).
Hiện tại Cty Southern California Edison (SCE) đã bắt đầu xây dựng một nhà máy phát điện dùng năng lượng gió ở vùng đồi núi Tehachapi, phía đông tp Los Angeles. Dự kiến sẽ xử dụng 50 dặm vuông để lấp đặt hệ thống quạt gió và sẽ khánh thành giai đoạn I vào năm 2010 với công suất 1.500 MW, lượng điện nặng cung cấp đủ năng lượng cho một triệu nhà. Khi hoàn tất giai đoạn II, công suất sẽ tăng lên 4.500 MW, có lượng điện năng tương đương với bốn nhà máy phát điện hạch nhân.
Tại quốc gia CS Cuba, chính phủ đang cho thiết lập 100 hệ thống gió, cung cấp tổng cộng khoảng 18 MW, dự trù hoàn tất vào tháng 7, 2007. Dự án nấy giúp cho Cuba tiết kiệm được 1.300 tấn dầu nhập cảng.
Theo thống kê vào tháng 4, 2005 cho thấy mức xử dụng năng lượng gió của vài quốc gia trên thế giới như sau: Đức với 16.628 MW, Tây Ban Nha, 8.263 MW, Hoa Kỳ, 6.752 MW, Đan Mạch, 3.118 MW, Ấn Độ, 2.983, Trung Quôc, 764 MW, và Pháp, 390 MW.
Kỹ thuật biến nguồn gió thành điện năng
Như đã nói ở phần trên, gió là một dạng của năng lượng mặt trời. Luồng gió cũng như cường độ gió tùy thuộc vào mức độ lồi lõm của mặt đất, mức độ rậm rạp của thực vật trên đất, và diện tích của ao hồ, biển cả v.v... Con người xử dụng nguồn gió trong nhiều ứng dụng khác nhau như: chạy thuyền bè, dẫn thủy nhập điền, và nhất là biến thành điện năng.
Tiến trình chuyển tải nguồn gió qua một turbine để sản xuất ra nguồn điện năng cần phải qua nhiều giao đoạn: Turbine gió biến động năng (kinetic energy) thành cơ năng (mechanical energy). Chính cơ năng nầy sẽ được chuyển thành điện năng qua máy phát điện. Câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để biến các turbine gió thành điện năng? Thật giản dị, gió làm các cánh quạt xoay tròn và chuyển động nầy tạo qua điện nhờ một máy phát điện. Từ đó điện năng đưiợc chuyển tải đi cùng khắp.
Vì lượng gió thổi không đều đặn, cho nên lượng điện nặng cung cấp bị giao động. Để giải quyết trở ngại trên, các turbine gió cần được kết hợp chung với các nguồn năng lượng khác để có được nguồn điện liên tục và cố định. Tại Liên hiệp Âu châu, những turbine nầy được nối mạng điện toàn Âu châu, nhờ đó màviệc sản xuất điện được điềi hòa.
Các loại turbine gió
Có hai loại turbine gió căn bản: loại quạt gió có trục ngang và loại quạt gió có trục đứng còn gọi là turbine Darrieus mang tên nhà sáng chế Pháp. Loại quạt gió có trục ngang với 3 cánh quạt được xử dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ, và quạt nầy được đặt đối diện với hướng gió được gọi là “up wind”. Và loại 2 cánh quạt được đặt cùng chiều với hướng gió gọi là “down wind”.
Một tập hợp turbine gió muốn đạt được hiệu quả kinh tế tối thiểu phải sản xuất ít nhất là 50 KW, và các tập hợp lớn có thể cho đến nhiều MW. Các tập hợp turbne nhỏ thường được kết hợp vớpi các photovoltaic của năng lượng mặt trời để cung cấp một nguồn điện liên tục và ổn định.
Công nghệ của một turbine gió
Một turbine gió gồm những bộ phận sau:
• Một máy đo vận tốc gió và chuyển kết quả nầy qua một hệ thống kiểm soát. Các cánh quạt được làm bằng hợp kim nhẹ hay một loại composite hữu cơ;
• Một hệ thống thắng để có thể ngừng việc xoay vòng của quạt gió trong trường hợp khẩn cấp hay bảo trì;
• Một hệ thống kiểm soát vận tốc của gió. Hệ thống nầy tự động ngưng mọi hoạt động của turbine khi vận tốc gió đạt đến 65 dậm/ giờ vì với vận tốc nầy sẽ làm nóng và có thể làm hư máy phát điện;
• Một hệ thống hộp số có nguyên tắc giống như hộp số xe hơi, có mục đích làm tăng vận tốc quây của gió từ 30 đến 60 vòng/phút lên 1.200 đến 1.500 v/p để có khả năng phát ra điện. Đây là phần chính yếu của turbine gió và giá thành của bộ phận nầy chiếm 75% già thành của toàn hệ thống turbine.
Vì vậy, những nhà nghiên cứu hiện tại cố gắng tìm giải pháp thay thế khác để có thể biến gió thành điện năng ở những vận tốc quây thấp mà không cần đến bộ phận nầy;
• Sau cùng, một máy phát điện để dự trữ điện năng từ hệ thống turbine gió phát ra.
Trường hợp Việt Nam
Đối với Việt Nam, tại các tỉnh vùng duyên hải chạy dài từ Ninh Thuận đến mũi Né, Bình Thuận là những vùng thuận lợi lớn để thiết trí các hệ thống turbine gió. Trong một tương lai không xa, ước tính vào khoảng 30 năm nữa, các nguồn năng lượng cổ điển như than đá, dầu khí sẽ dần dần bị cạn kiệt; thủy điện sẽ trở thành một hiểm họa lớn cho môi trường. Trong lúc đó điện năng từ các lò phản ứng hạch nhân vẫn còn là một khái niệm mơ hồ cho các nhà làm khoa học Việt Nam. Rốt ráo lại, chỉ còn lại hai nguồn điện năng sạch và có tính khả thi cao: đó là nguồn năng lượng mặt trời và năng lượng gió.
Theo kết quả khảo sát của Ngân hàng Thế giới trong Chương trình đánh giá về năng lượng cho Á Châu, Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng về năng lượng gió cao nhất Đông Nam Á, với 513.360 MW, tức là hơn 200 lần công suất của thủy điện Sơn La khi hoàn tất, và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện Việt Nam năm 2020. Cũng theo nghiên cứu của NHTG, hai vùng giàu tiềm năng ngất để phát treỉn năng lượng gió là Sơn Hải (Ninh Thuận và vùng đồi phía Tây Hàm Tiến đến Mũi Né (Bình Thuận). Gió hai nơi nầy có vận tốc trung bình lớn và rất ổn định, có vận tốc khoảng 6- m/giây. Với vận tốc nầy, có thể xây dựng các trạm điện gió công suất có thể lên 5 MW. Hiện tại, VN đã thử nghiệm hai quạt gió ở Cần Giờ, nhưng vì gió lớn do đó cả hai quạt gió đều bị gảy. Tại Đà Lạt, trong khu vực quân đội cũng có thiết lập các quạt gió, nhưng vẫn còn trong quy mô thí nghiệm.
Thiết nghĩ, ngay từ bây giờ, đã đến lúc Việt Nam cần phải quan tâm và bắt đầu xây dựng mạng lưới của hai nguồn điện năng nầy. Đây là một đầu tư đúng đắn và lâu dài cũng như khá tốn kém. Nếu không có những chuẩn bị ngay tức khắc, thì cuộc khủng hoảng năng lượng nhiều phần có thể xảy ra cho Việt Nam trong tương lai. Với đà gia tăng dân số hiện tại, với nhu cầu phát triển kinh tế hầu thâu ngắn cách biệt giàu-nghèo so với các quốc gia lân bang, thêm một lý do nữa để Việt Nam cần phải đẩy mạnh nguồn sản xuất năng lượng theo cấp số nhân chư không phải cấp số cộng như hiện nay.
Mai Thanh Truyết
Cuối năm 2006
Từ hơn một năm qua, giá xăng dầu tiếp tục tăng dần trên thế giới và hiện tại vẫn chưa có chỉ dấu nào cho thấy sự sụt giảm trong tương lai gần đây. Có những nguyên do chính để giải thích hiện tượng nầy. Đó là tình hình chính trị chung trên thế giới đang bất ổn với cuộc chiến tranh Iraq, và cuộc chiến chống khủng bố. Nhưng nếu nhìn xa hơn nữa, thế giới đang lo ngại trữ lượng toàn cầu đang có nguy cơ bị cạn kiệt.
Trữ lượng dầu hỏa trên thế giới, qua nhiều thăm dò và nghiên cứu của những cơ quan khác nhau như: Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (1997), Báo Washington Post (1996), Kỷ yếu Năng lượng quốc tế 1998 (International Energy Annual), Phòng Thống kê LHQ (1994). Hầu hết đều kết luận là trữ lượng dầu thô hiện chiếm vào khoảng 1.000 tỷ thùng (barrel) hay 1,5 1011 m3. Cũng cần biết: 1 barrel = 42 Gallon = 159 lít = 0,16 m3.
Cũng theo ước tính của Cơ quan Địa chất HK (US GS) thì với trữ lượng nầy, nhân loại chỉ có triển vọng xử dụng trong vòng 50 năm tới mà thôi.
Nếu căn cứ theo mức sản xuất của OPEC và các quốc gia sản xuất dầu độc lập thì đúng như vậy. Nhưng trên thế giới hiện tại, còn có nhiều quốc gia đang tiếp tục truy tìm và khai thác những khu vực có triển vọng có mõ dầu ở trong đất liền cũng như ở trong trầm tích của thềm lục địa như ở Việt Nam, Alaska (Hoa Kỳ), Nam Dương, Venezuela, Liên bang Nga v.v... Do đó trên thực tế, có thể cho phép chúng ta ước tính một cách lạc quan hơn con số 50 năm. Đó là chưa kể đến những phương pháp và nguyên liệu khác đang được nghiên cứu để thay thế xăng dầu.
OPEC là chữ viết tắt của “The Organization of Petroleum Exporting Countries” hay “Tổ chức các Quốc gia Sản xuất Dầu”. Có tất cả 9 quốc gia trong tổ chức nầy, đó là: Algeria, Nigeria, Indonesia, Iran, Iraq, Kuwait, Qatar, Saudi Arabia, và Venezuela. Tổ chức nầy định mức sản xuất dầu hàng năm cho các thành viên, từ đó gián tiếp quy định giá dầu cho các quốc gia khác trên thế giới.
Do đó, tùy theo tình hình biến động mà giá dầu có thể tăng bất ngờ do tình trạng “tạm ngưng” sản xuất của OPEC làm cho khủng hoảng năng lượng trên thế giới vào năm 1973. Hiện nay, chúng ta đang sống trong giai đoạn của một hình thức khủng hoảng vì giá dầu đã tăng gần gấp đôi so với năm ngoái. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng thực sự chưa xảy ra vì giá dầu hiện tại vẫn còn thấp so với giá của năm 1973 cộng thêm mức lạm phát hàng năm tương với giá $100/thùng hiện tại.
Nguyên liệu thay thế dầu
Đứng trước những bất trắc có thể xảy ra bất cứ lúc nào để tạo nên cuộc khủng hoảng năng lượng xăng dầu trên thế giới, các nhà khoa học đã có những bước tiên liệu để ngăn chặn hay hạn chế các bất trắc có thể xảy ra. Thế giới đã nhìn thấy hiểm họa của việc xử dụng dầu thô làm nguồn nguyên liệu chính cho công nghệ phát triển và di chuyển. Vì đó là: 1- nguồn nguyên liệu có trữ lượng giới hạn và đã báo hiệu trước thời gian bị cạn kiệt không xa; 2- mức ô nhiễm môi trường đặc biệt là sự hâm nóng toàn cầu là một nguy cơ thật sự mà thế giới cần phải giải quyết; 3- sau cùng, phương hướng tập trung để giải quyết hai vấn nạn trên là: truy tìm nguyên liệu để thay thế xăng dầu và biện pháp giải quyết mới để giảm thiểu việc phóng thích khí monoxide carbon (CO) và thán khí (CO2) vào không khí.
Hai hướng giải quyết trên là hai định hướng tối ưu trong hiện tại để tiến đến việc ngăn ngừa khủng hoảng năng lượng xăng dầu, và giảm thiểu được lượng thán khí, tác nhân chính của sự tăng nhiệt độ của bầu khí quyển.
Trước hết, xin nhắc lại quá trình khai thác công nghệ dầu khí.. Cho đến thập niên 80, phẩm chất xăng dầu không được tốt vì công nghệ nầy chưa khử được dư lượng chì (Pb) trong xăng, và phóng thích nhiều khí CO và CO2 vì động cơ của các phương tiện giao thông không đốt hết lượng xăng dầu trong máy. Chì là tác nhân làm cho trí não của trẻ em sơ sinh chậm phát triển.. Và CO, CO2 là động lực chính cho sự ô nhiễm không khí và sự hâm nóng toàn cầu.
Qua nghiên cứu, vào dầu thập niên 90, các nhà khoa học đã tìm ra công nghệ chưng cất (cracking) dầu khí tinh vi hơn và đã giải quyết được sự hiện diện của chì trong xăng. Hiện nay vấn đề tồn đọng còn lại là làm thế nào để hoàn chỉnh việc xử dụng toàn lượng xăng dầu trong động cơ.
Thêm nữa, Hoa Kỳ đã cho thêm chất hóa học MTBE gọi là chất “trợ oxy” vào trong xăng trong vòng một thập niên qua để trợ giúp việc tiêu thụ hoàn toàn lượng xăng dầu bơm vào động cơ. Nhưng vào năm 2002, chính chất trợ oxy nầy là nguyên nhân của một nguy cơ mới. Đó là mầm mống của một loại ung thư cho con người, và chất nầy đã được tìm thấy trong nguồn nước ở nhiều tiểu bang. Do đó, từ cuối năm 2003, chất MTBE hoàn toàn bị cấm xử dụng làm chất trợ oxy cho xăng dầu. Để thay thế, Cơ quan Bảo vệ Môi trường HK (US EPA) cho phép áp dụng rượu cồn hay ethanol để trộn vào xăng dầu chạy xe. Có thể pha trộn đến tỷ lệ 70% rượu trong xăng. Vì vậy mà mức sản xuất rượu cồn ở Hoa Kỳ trong năm 2004 là 12,5 tỷ lít, 17% cao hơn so với năm 2003. Các tiểu bang trồng bắp để sản xuất ra rượu ethanol ở Hoa Kỳ là Iowa, North và South Dakota, Nebraska, Wisconsin.
Công nghệ chế biến ethanol từ ngũ cốc
Rượu ethanol đã được điều chế từ gạo, nếp, bắp...từ hàng ngàn năm trước qua sự lên men rượu do vi khuẩn. Hiện nay, với nhu cầu giải quyết nạn khan hiếm năng lượng xăng dầu và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, ethanol quả thật là một nhu cầu cấp bách cho thế giới.. Do đó tiêu chuẩn đặt ra cho công nghệ lên men nầy là : 1- Truy tìm loại vi khuẩn làm tăng tiến trình lên men nhanh hơn và cho hiệu suất cao; 2- Và giảm thiểu tối đa các phó phẩm khác không cần thiết trong quy trình.
Công cuộc nghiên cứu nầy đã dược khắp thế giới thực hiện từ những năm 1970. Kết quả là qua hơn 1.400 báo cáo khoa học về vi khuẩn Zymomonas mobolis đăng tải trong suốt thời gian nầy, Kang và các cộng sự mới vừa hoàn tất mô hình di truyền (genome) của vi khuẩn nầy vào cuối năm 2004. Và từ mốc thời gian trên, công nghệ chuyển bắp thành ethanol đã tiến một bước dài góp phần vào công cuộc làm giảm ô nhiễm môi trường và giải quyết phần nào nạn khan hiếm năng lượng xăng dầu trong tương lai.
Hoa Kỳ đã đánh giá cao chương trình nầy, cho nên trong một Báo cáo của Ủy hội Quốc gia về Chính sách Năng lượng của HK, một tổ chức phi chính phủ (NGO) do William và Flora Hewlett tài trợ, trong đó quy tụ nhiều chính trị gia, khoa học gia, kỹ nghệ gia, giáo sư và đăc biệt có GS Molina, khôi nguyên giải Nobel. Trong báo cáo nầy, chỉ riêng chương trình dùng năng lượng thay thế, trong đó việc sản xuất ethanol là quan trọng nhất. Và theo như đã dự trù, trong năm 2025, HK sẽ giảm lượng tiêu thụ xăng dầu từ 10 đến 15% so với mức dùng hiện tại năm 2004 do việc xử dụng ethanol trong các phương tiện di chuyển.
Mức xử dụng rượu dùng cho năng lượng
Ấn Độ: Quốc gia nầy dùng đường mía để sản xuất ra rượu ethanol. Đây là một chính sách quốc gia của Ấn Độ, dùng rượu pha trộn với xăng dưới nhiều tỷ lệ khác nhau để cung cấp nhiên liệu cho các phương tiện di chuyển trong nước với mục đích giảm thiểu được ngoại tệ nặng dùng cho việc nhập cảng xăng dầu. Thêm nữa, việc nầy đã tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho nông dân trồng mía, và công nhân nhà máy sản xuất rượu và hạn chế được ô nhiễm môi trường.
Ấn Độ cũng đã áp dụng công nghệ mới trong việc điều chế rượu trực tiếp từ nước mía ép, chứ không qua giai đoạn cô nước mía thành mật đường (molasse). Kỹ thuật nầy làm giảm chi phí sản xuất. Năm 2001, Ấn Độ sản xuất 7,6 triệu tấn rượu ethanol nguyên chất, và trung bình có 5% lượng rượu được pha trong xăng dầu căn cứ theo Viện Định chuẩn Ấn Độ về xăng dầu (BISP).
Ba Tây: Đây là một quốc gia có diện tích trồng mía lớn nhất thế giới với gần 80.000 Km2 và cũng là quốc gia có mức sản lượng rượu lớn nhất. Công nghệ sản xuất rượu từ mía được chính phủ tài trợ cũng như mức thuế cao áp dụng cho xăng dầu nguyên chất là hai yếu tố làm cho người dân có khuynh hướng dùng rượu làm nhiên liệu cho xe cộ. Hầu hết các trạm xăng ở Ba Tây đều có hai trạm bơm: một cho xăng và một cho rượu nguyên chất.
Ba Tây là quốc gia đầu tiên đã áp dụng toàn quốc quy định trộn rượu trong xăng với tỷ lệ 24/76 kể từ khi có nạn khủng hoảng xăng dầu năm 1973. Trong thời gian nầy, ngoài cây mía ra, Ba Tây cũng đã thực hiện việc lên men rượu từ cây khoai mì. Ba Tây cũng
đã tận dụng cây mía để tạo ra năng lượng trong quá trình sản xuất rượu. Xác mía (bagasse) sau khí ép nước mía được xấy khô, và được dùng làm nguyên liệu cho việc chưng cất, thậm chí còn được chuyển đổi thành nhiệt điện để chạy máy. Việc làm nầy đã giải quyết được nhu cầu năng lượng cần thiết cho công nghệ sản xuất toàn quốc cũng như lượng điện dư thừa còn lại đã được dùng trong những dịch vụ công cộng ngoài xã hội. Theo thống kê năm 2003, tổng lượng điện sản xuất từ công nghệ nầy ước tính khoảng 1.600 MW, tương đương với hai lò điện nguyên tử hạng trung. Một nhà máy trung bình tiêu thụ một triệu tấn mía có thể cung cấp 5 MW điện cho thị trường bên ngoài (5 MW là lượng điện đủ cung cấp điện năng cho 5 ngàn nhà theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ).
Riêng tại Ba Tây, xe cộ tiêu thụ 100% rượu đã được sản xuất từ đầu thập niên 80. Năm 2005, có 80% xe lưu thông ở nước nầy là loại xe dùng xăng pha rượu, so với chỉ có 17% vào năm 2004. Thậm chí máy bay nhỏ dùng để phun xịt hoa màu cũng xài hổn hợp xăng-rượu. Mức sản xuất rượu hàng ngày của Ba Tây là 27 ngàn m3 trong đó 40% dùng làm nhiên liệu cho xe. Và sau cùng, Ba Tây đã bắt đầu dự án chuyển đổi gen DNA của cây mía trong cố gắng tạo ra một giống mía cho nhiều đường hơn từ hàng chục năm qua.
Giá thành của một gallon rượu rẻ hơn xăng độ 0.50 Mỹ kim tính theo thời giá 2006. Mặc dù 1 gallon xe chạy bằng rượu đạt được ít dặm hơn xe chạy bằng xăng, nhưng nhiên liệu rượu vẫn cho nhiều hiệu quả kinh tế hơn xăng, chưa kể đến mức lợi không nhỏ về việc môi trường bớt được ô nhiễm không khí do sự phát thải khí carbonic của xăng.
Hoa Kỳ: Năm 2006, HK sản xuất 5 tỷ gallon rượu ethanol và dự kiến tăng mức sản xuất lên 9 tỷ năm 2008. Tùy nhiên, lượng ethanol nầy cũng chưa thể thay thế được mức tiêu thụ xăng dầu của HK là 140 tỷ gallon/năm. Hai số trên cho thấy lượng rượu thay thế chỉ đủ nhu cầu cho 4,3% tổng lượng xe của Hoa Kỳ mà thôi (số liệu đã được chiết tính sau khi khấu trừ hiệu năng của rượu chỉ bằng 2/3 hiệu năng của xăng).
Muốn đạt được 9 tỷ gallon rượu cần phải có một diện tích đất là 20 triệu mẫu (acre, tương đương với 90.000 KM2), chiếm 25% tổng diện tích trồng bắp của HK. Số lượng bắp còn lại được dùng làm thực phẩm cho gia súc (50%), xuất cảng (20%), và cho kỹ nghệ chế biến thực phẩm 5%. Những công ty chưng cất bắp thành rượu chính của HK là: Cty Archer Daniels Midland (ADM), Monsanto, Dupont, và BP. ADM dự định xây thêm cơ sở chưng cất để tăng năng xuất lện 50% cho năm 2007 av Monsanto dự địnhtăng năng xuất thu hoạch bằng loại bắp chứa diếu tố lai tạo (hybrid) từ 150 lên 300 thùng/mẫu.
Lợi điểm của rượu ethanol dùng trong năng lượng
Đây là một trợ thủ đắc lực cho xăng dầu. Nó làm tiêu đốt hết lượng xăng dầu đã được bơm vào động cơ xe. Do đó, không còn phát sinh ra khí CO nữa. Lợi điểm thứ hai là do sự đốt cháy hoàn toàn nầy, hiệu quả kinh tế của việc xử dụng phương tiện di chuyển bằng xăng dầu giảm từ 7 đến 10% tùy theo tỷ lệ lượng ethanol thêm vào. Lợi điểm sau cùng nầy càng làm cho các nhà khoa học cố gắng thêm trong việc truy tìm những phương pháp hữu hiệu để hầu tăng năng suất điều chế rượu cồn từ ngũ cốc, đặc biệt từ bắp.
Vài suy nghĩ về năng lượng từ rượu
Như tất cả chúng ta đều biết, hiện tại trên thế giới, việc dùng ngũ cốc để tạo ra năng lượng thay thế dầu hỏa được chú ý đến như là một giải pháp cung cấp năng lượng trong hiện tại và tương lai. Ngũ cốc đang được dùng nhiều nhất là bắp và mía. Ở một số quốc gia việc dùng cây khoai mì (manioc), đậu nành, hay dầu hướng dương (sunflower) cũng đáp ứng được nhu cầu chế biến thành rượu. Nhưng hiệu quả kinh tế
lớn nhất vẫn là việc dùng bắp (400 lít rượu / 1 tấn bắp) và sau đó là mía (250 lít / 1 tấn mật đường).
Đứng về mặt bảo vệ môi trường, việc dùng nguyên liệu để chạy xe tiết giảm được mức ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn. tuy nhiên việc trồng trỉa độc canh về mía hay bắp ở một diện tích lớn để có thể cung ứng đủ cho nhu cầu quốc gia lại nảy sinh ra một vấn nạn môi trường mới cho nông dân, công nhân sống trong những vùng trồng tỉa và sản xuất rượu.
- Trước khi bắt đầu một mùa vụ mới, nông dân phải đốt cỏ khô, và gốc mía, gốc mì để dọn đất. Việc nầy đã tạo ra nhiều đám khói che phủ bầu trời và làm ô nhiễm không khí. Nông dân và công nhân ở những vùng nầy mắc bệnh về đường hô hấp cao so với nông dân ở vùng khác. Như vậy, vô hình chung, công nghệ nầy đã chuyển dịch ô nhiễm từ các thành phố về nông thôn, nghĩa là làm lợi cho người thành phố và hại cho nông thôn. Từ đó, làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành phố.
- Vì là độc canh ở một vùng lớn, do đó đa dạng sinh học (biodiversity) dần dần bị biến mất, vì các chủng loại cây cỏ thiên nhiên khác không còn tồn tại trong vùng trồng tỉa. Hệ sinh thái lần lần bị cải đổi. và hậu quả của việc độc canh là vi khuẩn, nấm mốc sẽ nẩy sinh và có sức đề kháng cao vì môi trường thiên nhiên không còn giữ được tính sinh diệt hổ tương giữa cây cỏ và sinh vật. Do đó, đứng trên tầm nhìn chiến lược quốc gia, các nước có nhu cầu cần xử dụng năng lượng từ rượu qua việc trồng tỉa bắp hay cây mía cần phải cải đổi kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng và sức đề kháng của cây bằng phân bón thích hợp và xử dụng hóa chất bảo vệ thực vật để tránh việc gây ô nhiễm không khí qua việc đốt đồng dọn cỏ cho mùa vụ sau.
- TS David Pimentel, Giáo sư về nông nghiệp ĐH Cornell, đưa ra kết luận rất tiêu cực về việc xử dụng năng lượng đến từ rượu như sau: “Chiến lược phát triển năng lượng từ rượu không phải là một chiến lược bền vững”. Ông đưa ra những số liệu nghiên cứu để chứng minh cho lập luận trên là:
o Nếu dùng bắp để biến chế rượu, phải cần thêm 29% năng lượng so với dầu thô để chuyển đổi thàng năng lượng chạy xe.
o Nếu dùng đậu nành để biến chế rượu, cần thêm 27% năng lượng.
o Và nếu dùng hạt hoa hướng dương cần thêm 118% năng lượng.
Do đó, nếu kết toán tổng cộng, có nhiều yếu tố làm cho việc sản xuất rượu để làm ra năng lượng không là một phát triển bền vững vì:
o Lượng nước dùng cho việc tưới tiêu và biến chế chưng cất rượu sẽ ảnh hưởng đến mức dự trử nước ngọt trên thế giới đang trên đà cạn kiệt.
o Hóa chất như phân bón và thuốc bảo vệ thực vật sẽ làm ô nhiễm môi trường.
Và sau cùng, TS David Pimentel đã khuyến cáo chính phủ Hoa Kỳ như sau:
“Hoa Kỳ cần có nhu cầu thay thế dầu trong tương lai để cung cấp năng lượng. Nhưng việc sản xuất rượu ethanol và biodiesel từ thực vật để làm năng lượng thay thế là một hướng đi sai lầm, vì công nghệ nầy đòi hỏi năng lượng để sản xuất ra rượu hay biodiesel nhiều hơn là hưởng được số lượng năng lượng mà chúng cung cấp cho con người”.
Và sau cùng, “việc sản xuất năng lượng thay thế từ rượu sẽ không mang lại lợi ích cho quốc gia đứng về phương diện an toàn năng lượng, về nông nghiệp, hay kinh tế và môi trường. Các nguồn năng lượng thay thế dầu khí sau đây cần phải khai triển thêm, đó là năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sinh khối (biomass), và năng lượng chuyển đổi hydrogen”
Mai Thanh Truyết
Orange, 01/2007